“Nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa giữa thời chiến”: Sứ mệnh của một linh mục Dòng Tên tại Siberia

Bài viết kể về sứ vụ của Linh mục Dòng Tên Wojciech Ziólek tại Sibêria, nơi một cộng đoàn Công giáo nhỏ bé kiên trì cầu nguyện cho hòa bình giữa Nga và Ukraina. Giữa chiến tranh, cha chọn ở lại để đồng hành với mọi người, vượt thắng hận thù và sợ hãi, đồng thời giúp họ nhận ra dung nhan Thiên Chúa nơi nhau.

Hơn bốn năm qua, mỗi ngày, tại một giáo xứ Công giáo nằm sâu trong vùng Sibêria của Nga, một cộng đoàn nhỏ vẫn quy tụ trước Thánh Thể để lần chuỗi Mân côi cầu nguyện cho hòa bình giữa Nga và Ukraina.

Việc cầu nguyện này được duy trì từ ngày 24 tháng 02 năm 2022, thời điểm Nga phát động cuộc tấn công toàn diện vào Ukraina. Cộng đoàn còn dâng thêm một ý nguyện khác mà Linh mục Dòng Tên Wojciech Ziólek cho biết đã trở thành điều thiết yếu trong sứ vụ mục tử của ngài: xin Thiên Chúa “cứu chữa tâm hồn chúng ta khỏi lòng thù hận và khát vọng trả thù”.

Khi chiến tranh bùng nổ, thế giới của Linh mục Ziólek, vị linh mục người Ba Lan coi sóc Giáo xứ Đức Mẹ Mân Côi tại Tomsk, dường như sụp đổ. Cha Ziólek chia sẻ với OSV News trong chuyến thăm ngắn ngày đến Ba Lan vào tháng 10: “Lúc đầu, tôi đã khóc rất nhiều. Thật khủng khiếp. Tôi cảm thấy bất lực vô cùng. Là một cộng đoàn Dòng Tên, chúng tôi không biết phải làm gì.”

Ngày 17 tháng 9, tại Warsaw, Linh mục Ziólek đã trao đổi với OSV News, trước ngày Chúa nhật Thế giới Truyền giáo lần thứ 100 được cử hành vào ngày 18 tháng 10. Cũng trong ngày hôm đó, Nga tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn khác bằng tên lửa và máy bay không người lái nhằm vào Ukraina. Theo các giới chức Ukraina, đợt tấn công suốt đêm đã khiến hơn 20 người bị thương tại Kyiv và các thành phố khác, đồng thời gây hư hại nhà cửa và cơ sở hạ tầng ở nhiều khu vực.

Linh mục Dòng Tên Wojciech Ziólek thuộc Giáo xứ Đức Mẹ Mân Côi tại Tomsk, Sibêria, Nga, trong một bức ảnh chưa xác định ngày chụp. Cha cho biết cộng đoàn của mình đã quy tụ hằng ngày trước Thánh Thể từ khi Nga tấn công Ukraina ngày 24 tháng 02 năm 2022, để cầu nguyện cho hòa bình giữa hai nước và xin Thiên Chúa “cứu chữa tâm hồn chúng ta khỏi lòng thù hận và khát vọng trả thù”. (Ảnh OSV News, do Cha Wojciech Ziólek cung cấp)

Cuộc chiến hiện đã bước sang năm thứ năm. Các nỗ lực ngoại giao vẫn tiếp diễn, nhưng cho đến nay vẫn chưa đem lại một giải pháp hòa bình. Ngày 11 tháng 10, ngay trước khi thông báo sẽ trải qua cuộc phẫu thuật để cắt bỏ một nốt khu trú ở phổi, Đức Thánh cha Lêô XIV một lần nữa kêu gọi hòa bình. Ngài nói: “Cuộc chiến tại Ukraina đau thương vẫn tiếp tục gây ra những đau khổ vượt xa biên giới nước này, đặc biệt tại các quốc gia nghèo nhất, nơi rất nhiều người phụ thuộc vào nguồn ngũ cốc nhập khẩu.”

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Tôi tha thiết kêu gọi các bên tham chiến bảo đảm việc vận chuyển ngũ cốc an toàn qua Biển Đen. Lương thực hằng ngày của hàng triệu người không thể bị biến thành con tin của chiến tranh.”

Chỉ vài tuần trước đó, Đức Tổng Giám mục Paul R. Gallagher, Ngoại trưởng Tòa thánh phụ trách quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, đã kết thúc chuyến thăm Matxcơva. Tại đây, ngài gặp gỡ các giới chức chính phủ Nga, đại diện Giáo hội Chính thống Nga và cộng đồng Công giáo nhỏ bé tại nước này. Trong Thánh lễ với hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo, ngài kêu gọi Giáo hội tại Nga trở thành “những người thực sự kiến tạo hòa bình trong đời sống hằng ngày”.

Một thiểu số vô cùng nhỏ bé

Đối với Linh mục Ziólek, đời sống hằng ngày ấy diễn ra cách xa Matxcơva. Giáo xứ của cha phụ trách toàn bộ tỉnh Tomsk, một vùng thuộc Sibêria rộng hơn 122.000 dặm vuông – lớn hơn đôi chút so với quê hương Ba Lan của cha.

Cha Ziólek chia sẻ với OSV News: “Điều đầu tiên gây ấn tượng đối với những ai chưa từng đến đó chính là những khoảng cách mênh mông.” Trên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn ấy, cha cho biết chỉ có hai nhà thờ Công giáo: nhà thờ giáo xứ tại Tomsk và một nhà thờ nhỏ bằng gỗ ở làng Bialystok.

Cha Ziólek nói: “Chúng tôi không chỉ là một nhóm thiểu số. Chúng tôi là một thiểu số vô cùng nhỏ bé. Đối với người đến từ một quốc gia Công giáo, hoặc thậm chí từ nơi có nhiều nhà thờ trong cùng một thành phố, thật khó hình dung rằng trên một vùng đất rộng bằng Ba Lan, chỉ có hai nhà thờ.”

Linh mục Wojciech Ziólek ban phép lành cho một em nhỏ thuộc cộng đoàn giáo xứ Công giáo tại Sibêria, trong một bức ảnh chưa xác định ngày chụp, tại Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Tomsk, Nga. (Ảnh OSV News, do Giáo xứ Dòng Tên Tomsk cung cấp)

Tuy nhiên, xét theo tiêu chuẩn của Sibêria, giáo xứ tại Tomsk lại có số tín hữu khá đông. Theo Linh mục Ziólek, ba Thánh lễ Chúa nhật quy tụ tổng cộng từ 200 đến 250 người. Cha cho biết tại một số cộng đoàn Công giáo khác ở Sibêria, mỗi Thánh lễ Chúa nhật chỉ có khoảng 20 hoặc 30 người tham dự. Theo những số liệu gần đây của Giáo hội, người Công giáo chỉ chiếm khoảng 0,5% dân số Nga; cộng đồng Công giáo theo nghi lễ Latinh trên toàn quốc có khoảng 800.000 người.

Cộng đoàn tín hữu tại đây phản ánh lịch sử tôn giáo phức tạp của Sibêria. Trong cộng đoàn có những người là hậu duệ của người Ba Lan, Đức và Litva, nhưng cũng có những người Nga thuộc các sắc tộc khác nhau. Một số người từng được rửa tội trong Giáo hội Chính thống khi còn nhỏ, nhưng không thực hành đức tin, rồi khi trưởng thành mới bắt đầu tìm kiếm Thiên Chúa.

“Anh chị đã đến với Thiên Chúa như thế nào?”

Theo Linh mục Ziólek, hành trình tìm kiếm ấy là điều khiến cha xúc động khi nghe người Nga kể lại. Cha nói: “Có một câu hỏi rất đẹp mà người ta thường đặt ra ở đây, một câu hỏi tôi chưa từng nghe thấy ở Ba Lan: ‘Anh chị đã đến với Thiên Chúa như thế nào?’ Rồi câu chuyện bắt đầu.”

Đối với những tín hữu Công giáo lớn tuổi, những câu chuyện ấy thường đưa họ trở về với gia đình, nơi đức tin được gìn giữ qua nhiều thập niên dưới chế độ vô thần Xô Viết nhờ người bà hoặc bà cố vẫn kiên trì cầu nguyện, trong khi các thế hệ trẻ được dạy rằng tôn giáo chẳng có ý nghĩa gì.

Ngày nay, một điều mới mẻ đang diễn ra.

Cha Ziólek nói: “Thế hệ người Công giáo đầu tiên gồm những người đã đến nhà thờ từ thuở nhỏ đang bước vào tuổi trưởng thành. Họ là những người được tiếp xúc với đức tin ngay từ khi chào đời và được rửa tội lúc còn nhỏ.” Không phải tất cả đều gắn bó với Giáo hội. Theo cha, một số người trẻ nổi loạn rồi rời bỏ đức tin, cũng như đã xảy ra ở những nơi khác. Một số người sau đó quay trở lại. Những người khác đến với Giáo hội qua những con đường không ai ngờ tới.

Linh mục Ziólek kể về hai cô gái ở độ tuổi ngoài 20. Một sáng Chúa nhật, sau khi dự tiệc vào tối thứ Bảy, họ đang đi bộ về nhà. Trời còn sớm, thời tiết lạnh giá và các phương tiện giao thông công cộng chưa hoạt động. Nhìn thấy nhà thờ Công giáo đang mở cửa, họ bước vào để sưởi ấm. Cha kể: “Họ ăn mặc như thể đang đi đến một hộp đêm. Họ sợ rằng một bà cụ nào đó sẽ nhìn thấy mình rồi trách mắng rằng ăn mặc như thế mà bước vào nhà thờ là xúc phạm đến Thiên Chúa.”

Các tín hữu tham gia cuộc rước tại cộng đoàn giáo xứ Công giáo ở Sibêria, trong một bức ảnh chưa xác định ngày chụp, tại Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Tomsk, Nga. (Ảnh OSV News, do Giáo xứ Dòng Tên Tomsk cung cấp)

Nhưng không ai trách mắng họ. Thánh lễ bắt đầu khi hai cô gái vẫn đang ngồi bên trong. Trước đó, họ chưa từng tham dự Thánh lễ Công giáo. Cha Ziólek kể tiếp: “Rồi đến nghi thức chúc bình an. Những bà cụ ấy không những không trách mắng họ, mà còn chìa tay ra chúc bình an với họ. Hai cô gái vô cùng ngạc nhiên.”

Ngày nay, theo cha, cả hai cô gái đều là những thành viên tích cực nhất của giáo xứ. Những câu chuyện như thế giúp giải thích tầm quan trọng của cộng đoàn này tại một nơi mà người Công giáo rất ít và sống cách xa nhau bởi những khoảng cách mênh mông. Cha Ziólek cho biết giáo dân giữ một vai trò đặc biệt lớn trong đời sống giáo xứ, từ công việc quản trị, gây quỹ cho đến các hoạt động phục vụ khác.

Cha nói: “Họ ở lại vì đã gặp được Thiên Chúa tại đây. Và họ ở lại vì đây là nơi gặp gỡ.”

Những hoa trái của chiến tranh

Chiến tranh đã đem đến một thử thách khác. Ngay từ ngày đầu tiên, Linh mục Ziólek và các tu sĩ Dòng Tên cùng cộng đoàn quyết định dành nửa giờ mỗi ngày để chầu Thánh Thể và lần chuỗi Mân côi cầu nguyện cho hòa bình giữa Nga và Ukraina.

Cha Ziólek nói: “Ngay từ đầu, điều chúng tôi cố gắng thực hiện trước hết là cầu nguyện cho hòa bình, và kế đến là bảo vệ mọi người khỏi lòng thù hận và nỗi sợ hãi.”

Cha giải thích: “Bởi vì hai hoa trái chính của chiến tranh, những điều xuất hiện ngay lập tức, chính là lòng thù hận và nỗi sợ hãi.”

Cha thận trọng phân biệt trải nghiệm này với tình trạng bách hại tôn giáo. Cha nói với OSV News: “Không ai bách hại chúng tôi vì chúng tôi là người Công giáo ở đây.” Cha cho biết thêm rằng giáo xứ có mối quan hệ thân tình với nhiều tín hữu Chính thống. Theo cha, Tomsk có truyền thống chung sống hòa hợp giữa các tôn giáo và nền văn hóa khác nhau. Truyền thống ấy một phần được hình thành bởi nhiều thế hệ người bị đưa đến đây từ các vùng khác nhau của Đế quốc Nga, rồi sau đó là Liên bang Xô Viết.

Chính Giáo hội Công giáo cũng mang dấu ấn của lịch sử ấy. Sau khi cuộc Khởi nghĩa tháng Mười Một của Ba Lan chống lại sự cai trị của Nga bị đàn áp, nhiều người Ba Lan tham gia khởi nghĩa đã bị lưu đày đến Tomsk và các vùng lân cận. Sự hiện diện ngày càng đông của họ góp phần tạo nên nhu cầu xây dựng một nhà thờ Công giáo cố định; ngôi thánh đường này được cung hiến vào năm 1833.

Gần hai thế kỷ sau, một tu sĩ Dòng Tên người Ba Lan đang phục vụ các tín hữu Công giáo tại chính nơi ấy.

Linh mục Ziólek cho biết cha hoan nghênh nỗ lực gần đây của Đức Tổng Giám mục Gallagher trong việc gặp gỡ cộng đồng Công giáo địa phương tại Nga, như một phần trong các cuộc tiếp xúc của Tòa thánh tại Matxcơva. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của cha, ngoại giao chỉ là một trong những phương diện của công cuộc xây dựng hòa bình. Cha Ziólek nói: “Tôi đặt nhiều hy vọng hơn vào những cử chỉ nhân ái giúp người Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành xích lại gần nhau.” Cha lấy Tomsk làm ví dụ về một nơi mà những mối tương quan như thế đã trở thành một phần trong đời sống Kitô hữu thường ngày.

Đối với cha và các tu sĩ Dòng Tên khác, việc tiếp tục hiện diện bên cạnh cộng đoàn ấy càng trở nên quan trọng kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Cha Ziólek khẳng định: “Bổn phận của chúng tôi – một bổn phận cao quý – là ở lại với mọi người, giúp đỡ và đồng hành với họ hết sức có thể trên hành trình đến với Thiên Chúa.”

Cha chia sẻ với OSV News: “Mọi người thường hỏi tôi nhớ điều gì nhất khi sống ở Nga. Tôi luôn trả lời: tự do và rau mùi tây.” Cha nhanh chóng giải thích rằng chuyện rau mùi tây hoàn toàn theo nghĩa đen: “Trong các cửa hàng rau củ, người ta có lá mùi tây, nhưng không có rễ mùi tây. Mà muốn nấu món súp Ba Lan thì phải có rễ mùi tây.”

Tuy nhiên, khi OSV News hỏi người Công giáo Nga đang thiếu điều gì nhất, câu trả lời của cha không còn mang tính đùa vui nữa. Cha đáp: “Tình yêu. Đó là trải nghiệm được một người đón nhận như chính con người mình, được một người thấu hiểu hoàn cảnh rối ren và vô cùng đau đớn mà mình đang phải trải qua.”

Cha nói: “Tôi nghĩ rằng cốt lõi của Kitô giáo là nhìn thấy một con người nơi người khác. Và cốt lõi của sứ vụ tại Nga, tại Sibêria, là nhìn thấy một con người nơi người Nga.”

Cha Ziólek nói thêm: “Hơn thế nữa, đó là nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa nơi người khác. Và cốt lõi của sứ vụ tại Nga trong thời chiến là nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa nơi người Nga, đồng thời giúp họ nhận ra dung nhan ấy nơi người Ukraina.”

Tác giả: Katarzyna Szalajko (osvnews.com)