Bài 23: Các nhân đức

Chương trình Giáo lý cho người trưởng thành do Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên trực tiếp giảng dạy, được công chiếu mỗi tháng 2 bài vào lúc 21h00 Chúa nhật.

 1. Danh từ và ý nghĩa

– Nhân: người

– Đức: phẩm chất tốt đẹp

=> Nhân đức là phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải có (Từ điển Công giáo).

2. Định nghĩa nhân đức

– Nhân đức là một thói quen tốt, thường xuyên trong con người, hướng người ta làm điều thiện một cách dễ dàng (Từ điển Công giáo).

– Nhân đức khiến nhân vị không những thực hiện những hành vi tốt mà còn cống hiến những điều tốt nhất của bản thân mình (Sách GLHTCG, số 1803).

3. Có mấy loại nhân đức theo Giáo lý Công giáo ?

Giáo lý Công giáo phân biệt hai loại nhân đức: Nhân đức nhân bản và Nhân đức đối thần.

a. Các nhân đức nhân bản:Là những thái độ vững chắc, những xu hướng kiên trì, những trọn hảo thường xuyên của ý chí và lý trí nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta… (Sách GLHTCG, số 1804).

=> Có bao nhiêu nhân đức nhân bản?

– Theo Giáo lý Kitô giáo, các nhân đức nhân bản cũng được gọi là nhân đức luân lý. Các nhân đức này không phải là bẩm sinh, mà được hình thành qua luyện tập và củng cố bằng hành vi luân lý tốt.

– Chúng giúp con người điều chỉnh hành vi, kiểm soát đam mê, và sống phù hợp với lý trí cùng đức tin.

– Khoa Luân lý học phân biệt có bốn nhân đức trụ như sau:

+) Nhân đức khôn ngoan: Giúp lý trí nhận ra điều thiện đích thực và chọn phương tiện tốt nhất để đạt tới.

+) Nhân đức công bằng: Tôn trọng quyền lợi của người khác, sống hài hòa và thực thi công ích.

+) Nhân đức can đảm: Kiên trì theo đuổi điều thiện dù gặp thử thách, vượt thắng sợ hãi, sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa.

+) Nhân đức tiết độ: Giúp tự chủ trước thú vui, giữ cân bằng trong việc hưởng thụ vật chất.

Bốn nhân đức trên được gọi là “nhân đức trụ” vì các nhân đức khác đều đặt nền tảng trên bốn nhân đức này.

b. Các nhân đức đối thần

– Đối: cách cư xử, hướng về.

– Thần: Đấng linh thiêng.

Đối thần là quy chiếu về Thiên Chúa.

=> Có mấy nhân đức đối thần ?

Có ba nhân đức đối thần là Tin – Cậy – Mến. Nguồn gốc và đối tượng của các nhân đức đối thần là Ba Ngôi Thiên Chúa. Các nhân đức đối thần là ơn siêu nhiên, không phải do con người tự tạo ra. 

Sách GLHTCG, số 1813: “Các nhân đức đối thần tạo nền móng, làm sinh động, và là nét đặc thù của các hành vi luân lý của Kitô hữu. Chúng định hình và mang lại sức sống cho tất cả các nhân đức luân lý. Các nhân đức này được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn các tín hữu, giúp họ có khả năng hành động như con cái của Ngài và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu”.

+) Đức Tin“Là nhân đức nhờ đó chúng ta tin vào Chúa và tất cả những gì Ngài đã nói và đã mạc khải cho chúng ta, và những gì Hội thánh dạy chúng ta tin, bởi vì Thiên Chúa chính là Chân Lý. Nhờ đức tin, con người tự nguyện phó thác toàn thân cho Thiên Chúa” (Sách GLTHCG, số 1814).

Người tín hữu có bổn phận gìn giữ đức tin, đồng thời phải truyền bá và làm chứng cho đức tin qua cuộc sống tốt lành. Các thánh tử đạo là những người dám chết vì đức tin.

+) Đức Cậy“Là nhân đức nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là vinh phúc của chúng ta, khi đặt lòng tin tưởng của chúng ta vào các lời hứa của Đức Kitô và cậy dựa vào sự trợ giúp của ân sủng của Chúa Thánh Thần” (Sách GLTHCG, số 1817).

Nhờ có đức cậy, người tín hữu không nản chí khi gặp khó khăn, vì tin chắc có ơn Chúa nâng đỡ. Đức cậy cũng thúc đẩy chúng ta mở lòng với tha nhân, với hy vọng vào đời sống vĩnh cửu. Ông Abraham là một mẫu gương của đức cậy (Rm 4,18).

+) Đức Mến“Là nhân đức nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Ngài, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình” (Sách GLTHCG, số 1822).

Đức mến là cốt lõi của Kitô giáo. Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,15). Chúa Giêsu còn dạy chúng ta yêu thương và cầu nguyện cho cả kẻ thù (Mt 5,44).

Chúng ta yêu mến Chúa vì Chúa đã yêu thương chúng ta (công trình sáng tạo, công trình cứu độ, sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống…).

Chúng ta yêu mến mọi người vì tất cả đều là con của Cha trên trời. Nhờ đức mến, chúng ta yêu mọi người vì Chúa, như Chúa đã yêu.

Thánh Augustinô: “Yêu thương là sự hoàn tất của mọi công việc của chúng ta. Đó là mục đích: chúng ta chạy vì đó, chúng ta chạy đến đó; và khi tới đó, chúng ta sẽ an nghỉ”.

4. Chúa Thánh Thần là nguồn mạch các nhân đức

– Mặc dù các nhân đức luân lý là do con người thiện chí tập luyện và trau dồi, Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: Chúa Thánh Thần là nguồn mạch của các nhân đức. Nói cách khác, nhờ ơn của Chúa Thánh Thần mà chúng ta đạt được những nhân đức luân lý, để trở nên người hoàn thiện.

– Giáo lý Thêm sức dạy rằng: Có bảy ơn của Chúa Thánh Thần là ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn can đảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa. Các ơn này làm cho chúng ta nên giống Chúa Giêsu. Đương nhiên, Chúa Thánh Thần ban ơn, nhưng chúng ta phải cộng tác bằng những nỗ lực cố gắng của bản thân, để rèn luyện và đạt được các nhân đức này.

Kết luận

– Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện.

– Các nhân đức nhân bản là những xu hướng thường xuyên và kiên trì của lý trí và ý chí nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta, điều tiết các đam mê và hướng dẫn nếp sống chúng ta cho phù hợp với lý trí và đức tin. Các nhân đức có thể được quy tụ quanh bốn nhân đức trụ: khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ.

– Có ba nhân đức đối thần là Tin, Cậy, Mến. Gọi là “đối thần” vì những nhân đức này hướng chúng ta về với Thiên Chúa. Không ai tự đạt được nhân đức đối thần, nhưng đó là Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy. Nhờ các nhân đức đối thần, chúng ta sống trong mối tương quan với Chúa Ba Ngôi. Ngài là Thiên Chúa được nhận biết nhờ đức tin, được trông cậy và được yêu mến vì chính Ngài.

– Nhờ đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình.

– Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Đức mến là nhân đức duy nhất tồn tại ở đời sau: trên Thiên Đàng, đức tin, đức cậy không còn nữa, vì đã thấy không còn phải tin nữa, đã chiếm hữu rồi không còn phải hy vọng nữa. Nhưng lòng mến thì tồn tại muôn đời: càng được chiêm ngắm Chúa tốt lành, càng gia tăng lòng yêu mến Chúa.

Tải file về tại đây!

Nguồn: tonggiaophanhanoi.org