Năm Bính Ngọ – Tản mạn về con ngựa.

Trong mười hai con giáp, con ngựa đứng hàng thứ 7 sau Tỵ (rắn), và trước Mùi (dê) nó có tên gọi khác là Mã, hay Ngọ. Con ngựa là biểu tượng cho sức mạnh, thành công, kiên nhẫn và lòng trung thành. Ngày xưa, khi loài người chưa phát minh ra động cơ, thì ngựa rất cần thiết trong các sinh hoạt của đời sống con người: Nó có thể kéo cầy, vận chuyển hàng hoá và giúp bản thân người ta di chuyển trên đất, tuy rằng ngày ấy loài ngựa không được nuôi phổ biến, chỉ giới thượng lưu, quyền thế trong xã hội mới được sở hữu nó mà thôi, (sau này khi phát minh ra động cơ, người ta đã lấy tiêu chuẩn; 1 ngựa thì bằng sức nâng 75kg lên cao 1m, trong thời gian 1 giây, để làm đơn vị đo sức máy và gọi đó là 1 mã lực, viết tắt là HP= horse power). Nhưng có lẽ vì con ngựa là con vật rất hữu ích và dễ thương nên nó đã đi sâu vào các lãnh vực  như: Ca dao, thành ngữ, tranh ảnh, điêu khắc, văn chương và âm nhạc…

Trước hết trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, có những câu như: Cỡi ngựa xem hoa; Một mình một ngựa; Ngựa non háu đá; Thẳng như ruột ngựa; Ngựa quen đường cũ; Ngươu tầm ngươu, mã tầm mã; Đầu trâu mặt ngựa; Quất mã truy phong; Da ngựa bọc thây; Đơn thương độc mã; Thay ngựa giữa dòng; Lên xe xuống ngựa; Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy (một lời nói ra bốn ngựa khó tìm).

“ Ngựa hay chẳng quản đường dài. Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng”. “Đường dài ngựa chạy biệt tăm. Người thương có nghĩa trăm năm cũng về”. “Có chồng như ngựa có cương. Đắng cay cũng chịu, vui thương cũng nhờ”…

Hiện nay, tại TP. Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác, người ta tạc tượng ngựa để ghi nhớ công trạng vì nó đã giúp chủ tướng nó chiến thắng giặc ngoại xâm, chẳng hạn như:Tượng Đức Trần Hưng Đạo cỡi trên lưng ngựa ở Bến Bạch Đằng. Tượng Phù Đổng Thiên Vương ở ngã sáu Phường Bến Thành…

Trong lãnh vực giải trí, người ta lập ra những trường đua, những câu lạc bộ ngựa để tìm thú vui tao nhã; như học cách cỡi ngựa, hay điều khiển ngựa chạy nước kiệu, nước đại. Ngoài ra, từ xa xưa người ta còn phát kiến ra những môn chơi trí tuệ như: Cờ tướng, cờ vua và cờ cá ngựa, mà trong đó có những quân cờ mang tên con Mã.

Ngựa đi vào âm nhạc qua nhiều nhạc phẩm mang âm tiết rất vui tươi và hùng tráng: Như bài hát: Nhong nhong (nhạc thiếu nhi) Bài nhạc dân ca: “Lý ngựa Ô”, hay bài “Vết thù trên lưng ngựa hoang” (Hồ Biểu Chánh- Phạm Duy) hoặc bài  “Ngựa phi đường xa” (ns Lê Yên-Phạm Đình Chương) trong bài này có những lời lẽ như sau: “Ngựa phi ngoài xa thật mau, lúc nguy nan ta yêu thương nhau, giống Tiên Rồng hết sức chiến đấu, nhìn mây nước ta hát vang lừng trong nắng vàng…”…

Trong thánh lễ Vọng Phục Sinh, tại các nhà thờ Công Giáo ca đoàn thường hát bài thánh ca mà âm tiết rất hào hùng, với những lời ca tụng Thiên Chúa: “Vang lên muôn lời ca, ta ca ngợi Chúa, vì uy danh Người cao cả. Chiến mã với kỵ binh Người đã quảng chìm đáy biển…” (ns. Hoàng Kim)

Ngày xưa, khi chiến tranh xảy ra giữa các nước hay các bộ lạc, người ta thường dùng ngựa làm phương tiện để chiến đấu. Vì thế, khi  thắng trận thì công trạng không phải chỉ riêng của vị tướng mà còn có sự giúp sức tích cực của các con chiến mã. Thế nên, để tưởng nhớ đến những chiến thắng oanh liệt bảo vệ tổ quốc, người ta thường đắp những tượng ngựa cùng với chủ tướng của nó để tưởng nhớ.

Con ngựa Bucephalus đã giúp cho Alexander chinh chiến khắp nơi, nên khi nó chết Đại Đế rất buồn và để tưởng nhớ nó ông đã lấy tên nó đặt cho một thành phố là: Bucephala.

Trong truyện Tam Quốc Chí khi nói đến Quan Vân Trường thì không thể không nhắc tới con ngựa Xích Thố, chạy như bay vượt đường trường ngàn dặm. Sự việc Lưu Bị thoát thân ở suối Đàm Khê là nhờ con ngựa Đích Lô có sức mạnh phi thường; phóng được qua sông. Ngựa Vương Truy gắn liền với danh tướng Trương Phi…

Trong tác phẩm “Tây duy ký” con Bạch Long Mã là một trợ thủ đắc lực, lúc nào cũng sát cánh cùng Đường Tăng và các đồ đệ trên hành trình đi lấy kinh ở Tây Trúc..

Có một câu đố mẹo “Con rắn nào mà có 08 cái chân? Thưa; Đó là con rắn hổ ngựa, vì hổ có 4 chân và ngựa thì cũng có bốn chân”

Khi tiếp cận con ngựa, nên tránh đừng bao giờ đứng sau đuôi nó rất nguy hiểm vì dễ bị nó đá!

Loài ngựa có một đặc tính là: Nếu nó vô tình giao phối với mẹ nó, thì sau khi phát hiện ra nó sẽ lập tức đi tự sát!

Có một loại cây cỏ mang tên “mã đề”mọc hoang khắp nơi. Dân gian dùng nó để chữa các bệnh như; Tiêu đờm, trị ho, chữa bí tiểu hoặc tiểu dắt, trị chảy máu cam, giải nhiệt, chữa viêm loét dạ dày-tá tràng…

Trong dân gian có một chứng bệnh gọi là: “thượng mã phong”, đây là bệnh lý đột quỵ, thường xảy ra đối với phái nam đang khi chăn gối. Để tránh bệnh này, các bác sĩ khuyên: Nên đi thăm khám bệnh thường xuyên, không dùng chất kích thích khi ân ái, quan hệ lành mạnh, siêng tập thể dục…

Có vài câu đối chơi chữ rất hay như: “ Con ngựa/ đá con ngựa đá, ngựa đá không đá con ngựa”. Đối lại: “ Thầy lang/ băm thầy lang băm, thầy lang băm/ chẳng băm thầy lang”. Câu khác: “ Con ngựa đá, không đá con ngựa đá”. Đối lại “ Thằng bù nhìn, chẳng nhìn thằng bù nhìn”…

Trong tác phẩm kinh điển: “Cuốn theo chiều gió” của nhà văn Margaret Mitchell, tác giả có kể lại sự việc là; đứa con gái của đại uý Rhett Butler tên là Bonnie cỡi ngựa nhảy rào bị té gẫy cổ dẫn đến tử vong, thì liền sau đó Rhett vì quá thương con nên đã rút súng bắt chết con ngựa Fatty ngay tại chỗ!

Chuyện kể rằng: Alexander Đại Đế rất say mê nàng hầu Phyllis đến nỗi bỏ bê việc triều chính. Triết gia Aristotle thấy vậy liền khuyên học trò của mình nên hạn chế thời gian dành cho người tình để tập trung vào việc trị quốc và học tập. Vì thế Alexander đã xa rời Phyllis, nên cô nàng này rất căm ghét triết gia và lên kế hoạch trả thù bằng cách quyết tâm quyến rũ cho bằng được triết gia. Một hôm, cô cố ý ăn mặc mỏng manh, rồi đi dạo trong vườn khiến Aristotle nhìn thấy và “say nắng”. Khi triết gia ngỏ lời yêu thương thì Phyllis ra điều kiện: “ Ông phải chứng minh tình yêu của ông bằng cách quỳ xuống để cho tôi cỡi lên lưng như cỡi một con ngựa”. Triết gia đồng ý. Đang khi bị nàng Phyllis “cỡi ngựa” thì Alexander bắt gặp. Nhà vua bàng hoàng, thốt lên: “Thưa thầy, thầy dạy tôi sao? Mà bây giờ thầy lại vậy?” Bấy giờ Aristotle đứng lên, bình thản trả lời: “Nếu một người phụ nữ có thể biến một bậc thầy trí tuệ thành con ngựa, thì cô ta cũng có thể biến nhà vua thành một con lừa!”

Truyền thuyết ghi chép lại: Ngày xưa vào thời Vua Hùng Vương thứ 6. Giặc Ân xâm lăng nước ta, thế giặc rất mạnh, triều đình không thể chống lại được, nên vua cho tìm người tài giỏi ra đánh giặc, vua cho sứ giả đi tìm kiếm khắp nơi. Lúc đó tại làng Phù Đổng có một em bé tên Gióng bị câm, nhưng khi nghe được hịch vua truyền thì liền lên tiếng nói; “Xin mẹ mời sứ giả vào nhà”. Bà mẹ thấy vậy rất kinh sợ, nhưng vẫn làm theo lời con. Khi sứ giả vào nhà thì Gióng bèn dõng dạc đặt ra yêu cầu: “Xin nhà vua đúc một con ngựa sắt, nón sắt, áo sắt và gươm sắt để đi đánh giặc”. Vua Hùng y lời, đúc cho Gióng những đồ vật trên, khi sứ giả đem ngựa sắt và các binh khí đến. Gióng đứng dậy vươn mình thành người khổng lồ, nhảy phóc lên ngựa sắt và lao thẳng ra chiến trường. Ngựa sắt khạc lửa, còn Gióng thì lấy gươm sắt chém tan tác lũ giặc.  Khi đã tiêu diệt hết giặc Ân. Gióng cùng ngựa sắt phi lên núi Sóc Sơn và bay thẳng lên trời…

Một ông lão nọ, nuôi được một con ngựa quý, nhưng một hôm nó bỏ nhà đi mất. Hàng xóm thấy vậy rủ nhau sang nhà để chia buồn, thế nhưng ông lại nói: “Mất ngựa chưa chắc đã phải là buồn”. Thời gian sau, con ngựa cũ trở về, nó đem theo một con ngựa khác, hàng xóm thấy vậy liền đến chung vui với ông, lần này ông lão nói: “Được ngựa chưa chắc đã phải là vui”. Thế rồi vì thích cỡi con ngựa mới, cậu con trai duy nhất của ông bị té gẫy chân. Hay tin, hàng xóm một lần nữa lại sang nhà chia buồn với ông, lần này ông cũng nói: “Con trai tôi gẫy chân cũng chưa chắc đã là xui”. Thời gian sau, đất nước ông bị giặc ngoại xâm. Tất cả trai tráng trong làng đều phải lên đường đi chiến đấu và hầu hết đã phải hy sinh ngoài chiến trường, riêng có người con trai của ông vì bị què chân nên được yên ổn ở nhà! 

Truyền thuyết Hy Lạp có ghi lại câu chuyên sau: Cuộc vây hãm thành Troy kéo dài 10 năm không thành công, quân Hy Lạp đã thực hiện một mưu kế là đóng một con ngựa gỗ khổng lồ, giấu một đội quân tinh nhuệ bên trong và giả vờ rút quân. Người thành Troy; sau khi bị thuyết phục đây là một con vật được hiến tế cho các thần linh, nên đã ra kéo con ngựa vào bên trong thành luỹ được coi như “bất khả xâm phạm” của mình. Hành động này đã định đoạt số phận của họ dẫn đến sự suỵ đổ của thành hoàn toàn trong chỉ một đêm. Vì thế, về sau câu thành ngữ: “Con ngựa thành Troy” mang ý nghĩa là; sự lừa đối phương để họ rơi vào bẫy để dành được chiến thắng.

Trong Kinh Thánh con ngựa được nói tới rất nhiều, nhưng chỉ xin đưa ra vài vụ tiêu biểu: Thời Cựu Ước, trong sách 1 Các Vua kể lại: “Đang khi ông Elia nói chuyện với con là Elisa thì có những con ngựa lửa kéo chiếc xe lửa tách giữa hai người và Elia lên trời trong cơn gió lốc” (x. 1 V 2, 1-13) Riêng trong sách Khải Huyền, có thị kiến xuất hiện 4 con ngựa. Một con ngựa trắng tượng trưng cho sự chiến thắng. Một con ngựa đỏ; tương trưng cho chiến tranh. Một con ngựa ô; tượng trưng cho kinh tế suy thoái và Con ngựa thứ 4 màu xanh nhạt biểu tưởng của sự chết chóc và âm phủ. (x. Kh 6, 1-8)Trong thư của thánh Giacôbê, ngài đã diễn tả hành động tra hàm thiếc vào miệng ngựa để khuất phục chúng, ám chỉ cho việc con người phải biết tiết chế và sử dụng lời nói của mình sao cho chừng mực, đúng đắn. (x.Gc 3, 3).

Khi nói về sự trở lại của thánh Phaolô người ta không thể không nhắc tới cú ngã ngựa của ngài trên đường đi tới Đamas, có thể ví: Tiếng gáy của con gà làm thức tỉnh thánh Phêrô thế nào thì cú ngã ngựa cũng đã làm cho thánh Phaolô đổi thay như vậy, để rồi từ việc ngã ngữa ấy thánh nhân đã quay lại với Chúa và trở thành vị Tông Đồ của dân ngoại.

Nhân dịp đón mừng xuân Bính Ngọ, người viết xin kính chúc quý vị độc giả gần xa một năm mới: “Mã đáo thành công”. Nhiều sức khoẻ, nhiều niềm vui và nhất là xây dựng được một cuộc sống thấm đượm tình nghĩa trong một Đất Nước, mà khởi đầu từ trong gia đình rồi lan toả ra cộng đoàn giáo xứ, thôn xóm, để luôn được thắm nồng tình yêu thương, liên kết: Như câu tục ngữ: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Và khi thực hiện được như vậy, thì chúng ta cũng đã thi hành được lời dạy của thánh Phaolô Tông Đồ rằng: “Vui với người vui, khóc với ai đang khổ sầu” (x. Rm 12, 15)                         

       Trần Văn Chính