Bộ Giáo lý Đức tin: Những xem xét liên quan đến các đề nghị công nhận hợp pháp cho việc kết hợp giữa những người đồng tính luyến ái

Bài viết này được trích từ Bản tin Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam số 102 (tháng 09 và 10 năm 2017) với chủ đề: Chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân.

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

MỘT VÀI SUY XÉT LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC ĐÁP TRẢ CÁC DỰ LUẬT
VỀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH*

LỜI TỰA

Gần đây, dự luật coi việc phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tình dục là bất hợp pháp được đề xuất ở nhiều khu vực khác nhau. Tại một số thành phố, chính quyền đã xây các nhà công cộng dành cho các cặp đồng tính (cũng như các cặp khác phái tính chưa kết hôn), mà đúng ra những nhà này phải được dành cho các gia đình. Những sáng kiến như thế trong thực tế có thể gây tác động xấu đến gia đình và xã hội, ngay cả khi chúng có vẻ hướng đến việc hỗ trợ các quyền dân sự căn bản, hơn là dung dưỡng các hoạt động và lối sống đồng tính. Những vấn đề như việc nhận con nuôi, việc thuê giáo viên, nhu cầu cần nhà ở của các gia đình đích thực, các sự quan tâm chính đáng của chủ nhà trong việc kiểm tra người thuê tiềm năng, thường đều bị ảnh hưởng.

Mặc dù không thể tiên liệu mọi việc liên hệ đến các dự luật về lãnh vực này nhưng những quan sát sau đây sẽ cố gắng xác định một vài nguyên tắc và sự phân biệt có tính chất tổng quát mà các nhà lập pháp thiện chí, các cử tri, hay giáo quyền cần cân nhắc khi đối diện với những vấn đề trên.

Phần thứ nhất sẽ nhắc lại các đoạn trong Thư gửi các Giám mục của Hội thánh Công giáo về vấn đề mục vụ cho những người đồng tính năm 1986 của Bộ Giáo lý Đức tin. Phần thứ hai sẽ bàn đến việc áp dụng chúng.

ICÁC ĐOẠN CÓ LIÊN QUAN TỪ LÁ THƯ CỦA BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

1. Lá thư gợi nhớ rằng “Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến đạo đức Tính dục” của Bộ Giáo lý Đức tin năm 1975 “đã ghi nhận sự phân biệt giữa tình trạng hay xu hướng đồng tính luyến ái với hành vi quan hệ đồng tính”; loại thứ hai là “lệch lạc nội tại” và “không thể được chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào” (số 3).

2. Vì “trong việc bàn luận theo sau việc ban hành bản tuyên ngôn (nói trên) …, người ta ghi nhận một biện giải quá nhân nhượng được dành cho tình trạng đồng tính, và một số bàn luận đi xa hơn khi coi tình trạng đó là trung tính hay thậm chí là tốt”, lá thư tiếp tục minh định rằng: “Mặc dù một khuynh hướng nào đó của người đồng tính không phải là một tội, nhưng nó ít nhiều cũng là một sự khuynh chiều được thiết định hướng tới một sự dữ luân lý nội tại; và vì thế khuynh hướng ấy phải được nhìn nhận như một sự lệch lạc có tính khách quan.

Do đó, sự quan tâm đặc biệt và lưu ý mục vụ cần hướng đến những người trong tình trạng này kẻo họ tin rằng việc sống khuynh hướng đồng tính qua những hành vi đồng tính là một lựa chọn luân lý có thể chấp nhận được. Thực tế không phải vậy” (số 3).

3. “Như trong mọi lệch lạc về luân lý, hoạt động đồng tính luyến ái ngăn trở sự viên mãn con người cũng như ngăn cản hạnh phúc của người ấy bằng hành vi trái nghịch với sự khôn ngoan sáng tạo của Thiên Chúa. Khi gạt bỏ những tư tưởng sai lạc về đồng tính luyến ái, Hội thánh không giới hạn, nhưng đúng hơn bảo vệ tự do cá nhân và nhân phẩm được hiểu theo nghĩa thực tế và đích thật ” (số 7).

4. Đối với phong trào đồng tính luyến ái, lá thư xác định: “Một chiến thuật được dùng để phản đối rằng bất kỳ hay mọi lời chỉ trích, sự e dè dành cho người đồng tính, hoạt động và lối sống của họ đều là các hình thức khác nhau của sự phân biệt đối xử cách bất công” (số 9).

5. “Một số quốc gia nỗ lực thao túng Hội thánh bằng cách giành lấy sự ủng hộ từ các mục tử, các vị này thường với ý hướng ngay lành, nhằm thay đổi quy chế dân sự và luật pháp. Điều này được thực hiện nhằm thích ứng với khái niệm của các nhóm có thế lực trong xã hội, những người này cho rằng đồng tính ít ra là điều hoàn toàn vô hại, nếu không muốn nói là điều hoàn toàn tốt. Ngay cả khi việc thực hành đồng tính có thể đe dọa nghiêm trọng đến đời sống và phúc lợi của phần lớn dân chúng, những người ủng hộ nó vẫn không lay chuyển và từ chối xem xét đến mức độ rủi ro to lớn đi kèm” (số 9).

6. “Hội thánh cũng ý thức rằng quan điểm cho rằng nên nhìn nhận hành vi đồng tính tương đương, hay có thể được chấp nhận như sự diễn tả tình dục của tình yêu vợ chồng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hiểu biết của xã hội về bản chất và các quyền lợi của gia đình và phá hủy chúng” (số 9).

7. “Đáng tiếc là những người đồng tính đã và đang là đối tượng của sự ác mang tính bạo lực trong ngôn từ cũng như hành vi. Lối hành xử như thế đáng bị các mục tử của Hội thánh lên án ở bất cứ nơi nào nó xảy ra. Điều đó bộc lộ một kiểu coi thường người khác vốn gây nguy hại cho các nguyên tắc cơ bản nhất của một xã hội lành mạnh. Phẩm giá nội tại của mỗi người luôn phải được tôn trọng trong lời nói, hành vi và luật pháp.

Nhưng phản ứng đúng đắn đối với tội ác xúc phạm tới người đồng tính không nên là việc tuyên bố rằng tình trạng đồng tính không lệch lạc. Khi một tuyên bố như thế được đưa ra và khi hành vi đồng tính luyến ái được dung dưỡng, hay khi mà luật dân sự được giới thiệu để bảo vệ những hành vi đồng tính đến mức không ai có quyền can thiệp, thì Hội thánh nói riêng cũng như xã hội nói chung sẽ không ngạc nhiên khi những quan niệm và thực hành sai lạc chiếm được chỗ đứng; đồng thời các phản ứng vô lý cũng như bạo lực sẽ gia tăng” (số 10).

8. “Điều cần tránh bằng mọi giá là sự giả định vô căn cứ và mất nhân phẩm cho rằng hành vi tình dục của những người đồng tính luôn luôn và hoàn toàn bị thúc bách và vì vậy không có tội gì. Điều chính yếu là sự tự do nền tảng, thứ tạo nên tính cách con người và đem lại cho người ta phẩm giá, phải được nhìn nhận như điều cũng thuộc về người đồng tính luyến ái” (số 11).

9. “Trong việc đánh giá luật được đề xuất, các giám mục nên đặt mối quan tâm hàng đầu của mình vào trách nhiệm bảo vệ và quảng bá đời sống gia đình” (số 17).

IICÁC ÁP DỤNG

10. Xét ở khía cạnh tránh phân biệt đối xử, “khuynh hướng tình dục” không tạo nên một phẩm chất có thể so sánh với chủng tộc, sắc tộc. Không giống những điều này, khuynh hướng đồng tính luyến ái là một lệch lạc có tính khách quan (xem Thư, số 3) và gợi lên mối liên hệ luân lý.

11. Có những lãnh vực trong đó không có sự phân biệt đối xử cách bất công khi xem xét đến khuynh hướng tình dục, chẳng hạn như trong việc nhận con nuôi hay chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, việc nhận giáo viên cũng như huấn luyện viên thể thao, và trong việc tuyển binh.

12. Những người đồng tính, với tư cách là con người, có quyền như mọi người, bao gồm cả quyền không bị đối xử theo cách làm mất phẩm giá cá nhân (xem số 10). Trong số các quyền khác, tất cả mọi người đều có quyền làm việc, quyền có chỗ ở, v.v. Tuy nhiên, những quyền này không tuyệt đối hoàn toàn. Chúng có thể bị hạn chế theo đúng luật vì hành vi bên ngoài biểu hiện sự lệch lạc mang tính khách quan. Điều này đôi khi không chỉ là hợp pháp nhưng còn mang tính đòi buộc nữa. Điều này rõ hơn không chỉ với trường hợp hành vi phạm tội mà thậm chí còn ngay cả trong trường hợp các hành vi biểu hiện bệnh về thể lý hay thần kinh. Vì thế, người ta chấp nhận rằng nhà nước có thể hạn chế việc thực thi các quyền để bảo vệ lợi ích chung, chẳng hạn như trong trường hợp những người bị bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh tâm thần.

13. Gộp chung cả “khuynh hướng đồng tính luyến ái” vào trong số những khoản được xem là cấm phân biệt đối xử có thể dễ dàng đưa đến việc xem đồng tính luyến ái là một nguồn tích cực của nhân quyền, chẳng hạn như đối với hành vi khẳng định hay đối xử ưu đãi trong thực hành tuyển dụng. Điều này càng thêm nguy hại vì chẳng hề có quyền nào gắn với đồng tính (xem số 10) nên không cơ sở nào cho việc hình thành các tuyên bố mang tính pháp lý. Việc thừa nhận đồng tính như một yếu tố mà trên cơ sở đó hình thành việc cấm phân biệt đối xử có thể dễ, nếu không muốn nói là tự động, dẫn đến việc bảo vệ và cổ võ về phương diện pháp lý đồng tính luyến ái. Việc đồng tính của một người sẽ được viện dẫn để chống lại việc phân biệt đối xử bị cáo buộc, và như thế việc thực hiện các quyền lợi sẽ hoàn toàn được bảo vệ qua việc xác nhận tình trạng đồng tính thay vì được bảo vệ qua vấn đề vi phạm các quyền con người.

14. “Khuynh hướng tình dục” của một người không thể đem so sánh với chủng tộc, giới tính, tuổi tác, v.v., cũng vì một lý do khác nữa nằm ngoài những gì đáng lưu ý đã nói ở trên. Khuynh hướng tình dục của một người cách chung thường không bị người khác biết trừ khi người ấy công khai nhận mình như thế hay khi một số hành vi bên ngoài chứng tỏ điều ấy. Thông thường, đa số những người có khuynh hướng đồng tính mà tìm cách sống khiết tịnh sẽ không công khai khuynh hướng tình dục của họ. Do vậy, vấn đề phân biệt đối xử trong lãnh vực công việc, nhà cửa, v.v. thường không xảy ra.

Những người đồng tính khẳng định xu hướng đồng tính của mình thường chính là những người đánh giá hành vi hay lối sống đồng tính là “hoàn toàn vô hại, nếu không nói là hoàn toàn tốt lành” (xem số 3), và vì vậy đáng được cộng đồng chấp nhận. Chính trong nhóm người này người ta dễ tìm thấy những người tìm cách “thao túng Hội thánh bằng cách giành lấy sự ủng hộ với chủ ý tốt của các mục tử nhằm thay đổi quy chế dân sự và luật pháp” (xem số 5), và tìm thấy những người sử dụng chiến thuật để phản đối rằng “bất kỳ hay mọi lời chỉ trích, sự e dè dành cho người đồng tính, hoạt động và lối sống của họ đều là các hình thức khác nhau của sự phân biệt đối xử cách bất công” (xem số 9).

Thêm vào đó, có một nguy cơ là đạo luật đặt đồng tính luyến ái làm cơ sở cho các quyền lợi có thể thực sự khuyến khích một người có khuynh hướng đồng tính luyến ái công khai hóa việc mình đồng tính hoặc thậm chí còn tìm đối tác để khai thác các quy định của khoản luật.

15. Vì trong việc đánh giá các dự luật được đề xuất cần chú ý nhiều nhất đến trách nhiệm bảo vệ và quảng bá đời sống gia đình (xem số 17), cần chú ý chặt chẽ đến các điều khoản mang tính dự phòng liên quan tới các biện pháp được đề xuất. Các điều khoản đó sẽ ảnh hưởng đến việc nhận con nuôi hoặc quan tâm chăm sóc trẻ thế nào? Liệu chúng có bảo vệ các hành vi đồng tính luyến ái cách công khai hay riêng tư không? Liệu chúng có đánh đồng các đôi đồng tính với gia đình, ví dụ như đối với vấn đề nhà ở công cộng hay bằng cách cho phép đối tượng đồng tính luyến ái hưởng các ưu đãi về việc làm mà gồm cả những điều như quyền tham gia của “gia đình” vào phúc lợi y tế dành cho nhân viên không (xem số 9)?

16. Cuối cùng, khi liên quan đến lợi ích chung, Giáo quyền không được ủng hộ hoặc giữ thái độ trung lập đối với các đạo luật gây hại ngay cả khi nó cho phép những ngoại lệ dành riêng cho các tổ chức và thể chế của Hội thánh. Hội thánh có trách nhiệm thăng tiến đời sống gia đình và luân lý chung cho toàn xã hội dân sự dựa trên những giá trị luân lý nền tảng, không chỉ đơn thuần bảo vệ mình khỏi việc thực hành những khoản luật có hại (xem số 17).

ORC 24 tháng 7 năm 1992, 4.

Chuyển ngữ: BS Trần Như Ý Lan, C.N.D

Chuyển ngữ từ: vatican.va

**************

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

NHỮNG XEM XÉT LIÊN QUAN ĐẾN CÁC ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN HỢP PHÁP
CHO VIỆC KẾT HỢP GIỮA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI

LỜI TỰA

1. Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề liên quan đến đồng tính luyến ái được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II và một số giới chức khác của Tòa thánh đề cập đến. Đồng tính luyến ái là một hiện tượng xã hội cũng như luân lý nan giải, ngay cả ở một số nước mà nó không là vấn đề pháp lý quan trọng. Nó được quan tâm hơn ở những nước đã ban hành hay dự định sẽ ban hành – việc công nhận hợp pháp sự kết hợp đồng tính, điều có thể bao gồm khả năng nhận con nuôi. Bản Những Xem Xét này không chứa các yếu tố tín lý mới nào; đúng hơn chỉ khẳng định lại những điểm thiết yếu về vấn đề này và cung cấp các lập luận rút ra từ lý do có thể được các giám mục dùng để chuẩn bị cho những can thiệp cụ thể hơn, thích hợp với các tình huống khác nhau trên thế giới, nhằm bảo vệ và thăng tiến phẩm giá của hôn nhân, nền tảng của gia đình, và sự ổn định bền vững của xã hội, trong đó gia đình là yếu tố cấu thành. Bản Những Xem Xét này cũng nhằm mục đích đưa ra định hướng cho các chính trị gia Công giáo bằng việc xác định các phương pháp tiếp cận dự luật về lãnh vực này, tương hợp theo lương tâm Kitô giáo. Vì vấn đề này liên hệ đến luật luân lý tự nhiên nên các lập luận sau đây không chỉ dành cho những ai tin vào Đấng Kitô, mà còn cho tất cả những ai dấn thân thăng tiến và bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

I. BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ĐẶC TÍNH BẤT KHẢ NHƯỢNG CỦA HÔN NHÂN

2. Giáo huấn của Hội thánh về hôn nhân và về sự bổ túc lẫn nhau của phái tính tái nhấn mạnh một sự thật vốn rõ ràng đối với lý trí đúng đắn và được công nhận bởi tất cả mọi nền văn hóa lớn trên thế giới. Hôn nhân không chỉ là tương quan bất kỳ giữa người với người. Nó được tạo thành bởi Đấng Tạo Hóa với bản chất, đặc tính thiết yếu và mục đích của chính nó. Không một ý thức hệ nào có thể xóa bỏ khỏi tinh thần của nhân loại một sự chắc chắn rằng hôn nhân chỉ tồn tại giữa một người nam và một người nữ vốn là những người, qua việc trao cho nhau món quà nhân vị, thích hợp và dành riêng cho họ, hướng đến sự hiệp nhất với nhau. Bằng cách này, họ hoàn thiện lẫn nhau, để cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái.

3. Chân lý tự nhiên về hôn nhân đã được khẳng định trong Mặc Khải chứa đựng trong những câu chuyện Kinh Thánh về sự sáng tạo, cũng là một lối diễn tả của sự khôn ngoan của con người ban sơ, trong đó, tiếng nói của tự nhiên được lắng nghe. Có ba yếu tố nền tảng trong kế hoạch của Đấng Tạo Hóa về hôn nhân, như đã được thuật lại trong sách Sáng Thế Ký.

Trước hết, con người, hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng có “nam và nữ” (St 1,27). Đàn ông và đàn bà bình đẳng như những con người và có tính bổ túc cho nhau. Tính dục là điều gì đó liên hệ đến lãnh vực sinh-thể lý và cũng được nâng lên một tầm mức mới, tầm mức nhân vị, ở đó tự nhiên và tinh thần hòa quyện nên một.

Thứ hai, Hôn nhân được Đấng Tạo Hóa thiết định như một hình thức sống mà trong đó, sự hiệp thông của con người được hiện thực hóa, bao gồm cả việc sử dụng khả năng tình dục. “Vì đó mà một người nam lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình, và họ trở nên một xương một thịt” (St 2,24).

Thứ ba, Thiên Chúa đã muốn ban cho việc kết hợp giữa người nam và người nữ một sự tham dự đặc biệt trong công trình sáng tạo của Ngài. Vì thế, Ngài chúc lành cho người nam và người nữ với những lời “hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều” (St 1,28). Do đó, trong kế hoạch của Đấng Tạo Hóa, tính tương hỗphái tính và sinh sản con cái thuộc về chính bản chất tự nhiên của hôn nhân.

Hơn nữa, sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ đã được Đức Kitô nâng lên phẩm giá của một bí tích. Hội thánh dạy rằng hôn nhân Kitô giáo là một dấu chỉ hữu hiệu của giao ước giữa Đức Kitô và Hội thánh (x. Ep 5,32). Ý nghĩa hôn nhân này của Kitô giáo không làm giảm giá trị nhân bản sâu xa của sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ, mà còn tái khẳng định và củng cố nó (x. Mt 19,3-12; Mc 10,6-9).

4. Hoàn toàn không có nền tảng gì để xem sự kết hợp đồng tính trong bất kỳ cách nào là tương tự, hay ngay cả giống cách loại suy xa, với kế hoạch Thiên Chúa dành cho hôn nhân và gia đình. Hôn nhân có tính thánh thiêng, trong khi các hành vi đồng tính đi ngược lại với luật luân lý tự nhiên. Các hành vi đồng tính “làm hành vi tình dục không mở ra với món quà sự sống. Chúng không đi theo sự bổ túc tình dục và tâm cảm đích thực. Không trường hợp nào những hành vi ấy được chấp nhận.”

Kinh thánh lên án các hành vi đồng tính “như là sự hư hỏng trầm trọng… (x. Rm 1,24-27; 1Cr 6,10; 1Tm 1,10). Phán quyết này của Kinh thánh không đương nhiên cho phép chúng ta kết luận rằng tất cả những ai đang chịu đựng sự bất thường này đều phải chịu trách nhiệm cá nhân về nó, nhưng nó chứng tỏ thực tế rằng những hành vi đồng tính là lệch lạc nội tại.” Phán quyết luân lý tương tự cũng được thấy từ nhiều ngòi bút Kitô giáo trong các thế kỷ đầu và được Truyền thống Công giáo nhất trí đồng thuận.

Tuy nhiên, theo giáo huấn của Hội thánh, đàn ông và đàn bà có khuynh hướng đồng tính “phải được đón nhận với sự tôn trọng, cảm thông và bén nhạy. Mọi dấu chỉ phân biệt đối xử bất công trong tương quan với họ cần phải được tránh.” Giống như các Kitô hữu khác, họ cũng được mời gọi sống đức khiết tịnh. Tuy nhiên, khuynh hướng đồng tính là “lệch lạc khách quan” và thực hành đồng tính luyến ái là “tội trọng trái nghịch với đức khiết tịnh.”

II. CÁC THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ KẾT HỢP ĐỒNG TÍNH

5. Đối mặt với thực trạng của sự kết hợp đồng tính, các chính quyền dân sự đưa ra những quan điểm khác nhau. Có khi họ đơn thuần chấp nhận hiện tượng này, khi khác họ ủng hộ việc công nhận hợp pháp các sự kết hợp ấy, với lý do né tránh, khi một số quyền khác được xét đến, sự phân biệt đối xử chống lại những người chung sống với người đồng giới. Trong một số trường hợp khác, họ hợp pháp hóa sự kết hợp đồng tính, xem nó tương đương với hôn nhân hợp pháp chân chính, cùng với khả thể nhận con nuôi một cách hợp pháp.

Nơi đâu chính sách của chính phủ mặc nhiên nhân nhượng vấn đề và không có sự công nhận pháp lý rõ ràng đối với những sự kết hợp đồng tính, nơi đó cần phân biệt cẩn thận các khía cạnh khác nhau của vấn đề. Lương tâm luân lý đòi hỏi rằng, trong mọi trường hợp, các Kitô hữu phải làm chứng cho toàn bộ chân lý luân lý, vốn đối nghịch lại với cả việc ủng hộ hành vi đồng tính lẫn việc phân biệt đối xử bất công chống lại người đồng tính. Do đó, các hành động khôn ngoan và thận trọng có thể có hiệu quả; những điều này có thể bao gồm: lột trần cách thế mà sự nhân nhượng này có thể bị khai thác hay sử dụng để phục vụ cho một ý thức hệ nào đó; nêu rõ bản chất phi luân lý của những sự kết hợp này; nhắc nhở chính quyền nhu cầu hạn chế hiện tượng này trong giới hạn nhất định để đảm bảo luân lý cộng đồng, và trên hết, để tránh cho những người trẻ có ý tưởng lệch lạc về tính dục và hôn nhân vốn có thể làm băng hoại những biện pháp phòng ngừa cần thiết và góp phần làm lan rộng hiện tượng này. Những ai muốn dịch chuyển từ nhân nhượng sang hợp pháp hóa các quyền cụ thể cho việc chung sống với người đồng tính cần được nhắc nhở rằng sự đồng thuận hay hợp pháp hóa điều xấu là điều rất khác so với bao dung điều xấu.

Trong những nơi mà các sự kết hợp đồng tính được công nhận về mặt pháp lý hay được ban cho vị thế hợp pháp và quyền lợi dành cho hôn nhân, sự phản đối cách rõ ràng và dứt khoát là một bổn phận. Người ta phải tránh bất kỳ kiểu hợp tác mô thức (formal cooperation) nào trong việc ban hành hoặc áp dụng các đạo luật bất công nghiêm trọng như thế, và hết sức có thể, tránh cả việc hợp tác mang tính chất thể (material cooperation) trong mức độ áp dụng luật ấy. Trong lãnh vực này, mọi người đều có quyền thực thi việc phản đối theo lương tâm của mình.

III. CÁC LẬP LUẬN CHO LÝ DO CHỐNG LẠI VIỆC CÔNG NHẬN TÍNH HỢP PHÁP CỦA SỰ KẾT HỢP GIỮA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

6. Để hiểu lý do tại sao cần chống lại sự công nhận pháp lý cho những sự kết hợp đồng tính, các cân nhắc về mặt đạo đức của nhiều trật tự khác nhau cần phải được xem xét.

Từ trật tự của lý trí đúng đắn

Phạm vi của luật dân sự chắc chắn còn hạn chế hơn phạm vi luật luân lý, nhưng luật dân sự không thể đi ngược lại với lý trí đúng đắn mà không làm mất sức ràng buộc của nó đối với lương tâm. Mỗi khoản luật do con người tạo ra đều hợp pháp trong chừng mực phù hợp với luật luân lý tự nhiên, được lý trí đúng đắn công nhận, và tôn trọng các quyền bất khả nhượng của mọi người. Những khoản luật ủng hộ kết hợp đồng tính là trái với lý trí đúng đắn bởi vì chúng trao những bảo đảm pháp lý, tương tự như những gì được trao cho hôn nhân đích thực, cho sự kết hợp giữa những người đồng giới với nhau. Xét đến những giá trị bị đe dọa trước vấn đề này, nhà nước không thể trao tư cách pháp nhân cho những sự kết hợp như thế mà không làm mất đi nhiệm vụ thăng tiến và bảo vệ hôn nhân như một thể chế thiết yếu cho lợi ích chung.

Người ta có thể hỏi làm thế nào mà một luật có thể đi ngược với lợi ích chung nếu nó không áp đặt bất kỳ loại hành vi cụ thể nào, nhưng chỉ đơn thuần công nhận pháp lý cho một thực trạng vốn dường như chẳng gây bất công cho ai. Trong khoản này, trước tiên cần phải suy nghĩ về sự khác biệt giữa hành vi đồng tính như một hiện tượng riêng tư và hành vi tương tự như một mối quan hệ trong xã hội được luật pháp tiên kiến và chuẩn nhận, tới độ nó trở thành một trong những thể chế của cấu trúc luật pháp. Hiện tượng thứ hai không chỉ nghiêm trọng hơn, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng hơn, còn có thể gây ra những thay đổi trong tổng thể tổ chức xã hội, đối nghịch lại với lợi ích chung. Dù sao đi nữa, luật dân sự là nguyên tắc cấu thành của đời sống xã hội con người. Chúng “đóng vai trò rất quan trọng và đôi khi còn có vai trò quyết định trong việc tạo ảnh hưởng đến các mô hình tư duy và hành vi”. Lối sống và các giả thiết cơ bản này không chỉ diễn tả cấu trúc đời sống xã hội bề ngoài mà còn biểu đạt xu hướng sửa đổi quan điểm và sự đánh giá hình thái cư xử của thế hệ trẻ. Việc công nhận pháp lý cho những sự kết hợp đồng tính làm lu mờ một số giá trị luân lý cơ bản và làm giảm giá trị của thể chế hôn nhân.

Từ trật tự sinh học và nhân chủng học

7. Các sự kết hợp đồng tính hoàn toàn không có trong những yếu tố sinh học và nhân chủng học về hôn nhân và gia đình vốn là nền tảng ở cấp độ lý trí cho sự công nhận pháp lý. Những sự kết hợp như thế không thể đóng góp một cách phù hợp cho sự truyền sinh và sự tồn tại của loài người. Khả năng sử dụng các phương pháp được khám phá gần đây về thụ thai nhân tạo, bỏ qua việc tôn trọng nhân phẩm, cũng không thể thay đổi sự bất cập này.

Những sự kết hợp đồng tính cũng đều hoàn toàn thiếu mất chiều kích vợ chồng vốn là điều thể hiện được hình thức tính dục có tính nhân bản và trật tự. Các quan hệ tình dục là nhân bản khi mà trong chừng mực chúng thể hiện và thúc đẩy sự hỗ tương chung về giới tính trong hôn nhân, đồng thời mở ra cho việc truyền sinh sự sống mới.

Kinh nghiệm cho thấy, sự vắng bóng của việc bổ trợ giới tính trong những sự kết hợp này tạo nên trở ngại trong việc phát triển bình thường của những đứa trẻ được những người này chăm sóc. Họ sẽ bị tước đoạt kinh nghiệm làm cha hay làm mẹ. Việc cho phép những người sống trong tình trạng kết hợp như vậy nhận con nuôi thực sự đồng nghĩa với thực hành bạo lực đối với những đứa bé này, theo nghĩa là điều kiện lệ thuộc của chúng sẽ đặt chúng vào môi trường không có lợi cho sự phát triển toàn diện con người của chúng. Đây là một điều phi luân nghiêm trọng và là sự đối nghịch công khai với nguyên tắc cũng được công nhận trong Công ước Liên hiệp Quốc tế về Quyền Trẻ Em, rằng trong mọi trường hợp, lợi ích tốt nhất cho trẻ em, xét như những người yếu thế và thành phần dễ bị tổn thương hơn, là điều cân nhắc tối thượng.

Từ trật tự xã hội

8. Xã hội nợ sự tiếp tục sống còncủa nó với gia đình, đặt nền trên hôn nhân. Hậu quả không thể tránh khỏi của sự công nhận hợp pháp sự kết hợp đồng tính là việc định nghĩa lại hôn nhân, và trong tình trạng hợp pháp này, nó trở thành một thể chế không có tham chiếu cơ bản về các yếu tố liên hệ đến tình dục khác giới; chẳng hạn như, việc truyền sinh và nuôi dạy con cái. Từ quan điểm pháp lý, nếu hôn nhân giữa một người nam và một người nữ được xem chỉ là một khả thể hình thứccủa hôn nhân thì khái niệm về hôn nhân sẽ trải qua một sự chuyển đổi tận căn, gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích chung. Bằng việc đặt sự kết hợp đồng tính trên bình diện pháp lý tương đương với sự kết hợp hôn nhân và gia đình, nhà nước hành động tùy tiện và trái nghịch với nghĩa vụ của mình.

Các nguyên tắc tôn trọng và không phân biệt đối xử không thể được viện dẫn để ủng hộ cho việc công nhận pháp lý cho sự kết hợp đồng tính. Sự phân biệt giữa người với người hay sự từ chối nhìn nhận tính xã hội, hoặc từ chối các lợi ích là không thể chấp nhận chỉ khi nó đi ngược lại với công bình. Việc chối bỏ tình trạng xã hội và pháp lý của hôn nhân đối với các hình thức sống chung vốn không là hôn nhân và cũng không thể có tính hôn nhân thì không đi ngược với công bình; trái lại, công bình đòi buộc điều chối bỏ này.

Nguyên tắc về sự tự quyết dành riêng cho mỗi cá nhân cũng không được nại đến một cách hợp lý. Hai sự việc rất khác nhau, một đàng là việc công nhận rằng mỗi công dân có có thể tự do tham gia vào các hoạt động mà mình quan tâm và quyền này nằm trong quyền tự do dân sự cách chung và một đàng là cho rằng các hoạt động không đóng góp nhiều và tích cực cho sự phát triển con người trong xã hội có thể được nhà nước công nhận cách tuyệt đối về mặt pháp lý. Ngay cả việc loại suy xa, những sự kết hợp đồng tính không làm tròn được mục đích hôn nhân và gia đình vốn xứng đáng được công nhận một cách cụ thể và tuyệt đối. Ngược lại, có những lý do tốt để chắc rằng các sự kết hợp như thế là có hại cho sự phát triển đúng đắn của xã hội loài người, nhất là nếu tác động của chúng gia tăng trên xã hội.

Từ trật tự pháp lý

9. Vì những cặp hôn nhân đảm bảo sự kế thừa của các thế hệ và do đó là điểm nổi bật trong mối quan tâm cộng đồng, nên luật dân sự dành cho họ một sự công nhận có tính thể chế. Trái lại, sự kết hợp đồng tính không cần sự chú ý cụ thể của quan điểm luật pháp vì chúng không thực hành chức năng này của công ích.

Cũng chẳng phải là lập luận có giá trị khi cho rằng việc công nhận pháp lý cho sự kết hợp đồng tính thì cần thiết để tránh những trường hợp mà trong đó, việc sống chung của những người đồng tính, đơn thuần vì họ sống chung với nhau, có thể làm họ bị tước bỏ sự công nhận các quyền làm người và quyền công dân của họ. Trên thực tế, họ luôn có thể sử dụng các quy định của pháp luật – như mọi công dân xét từ quan điểm về quyền tự quyết cá nhân – để bảo vệ quyền của họ trong vấn đềlợi ích chung. Sẽ cực kỳ bất công khi hy sinh lợi ích chung và các luật chính đáng về gia đình để bảo vệ những lợi ích cá nhân vốn là những điều có thể và phải được bảo đảm theo các cách thức làm sao không gây hại cho toàn xã hội.

IV. NHỮNG THÁI ĐỘ CỦA CHÍNH TRỊ GIA CÔNG GIÁO LIÊN HỆ ĐẾN LUẬT ĐỐI VỚI SỰ KẾT HỢP ĐỒNG TÍNH

10. Nếu đúng thật mọi người Công giáo có nghĩa vụ phản đối việc công nhận hợp pháp sự kết hợp đồng tính thì các chính trị gia Công giáo cũng có nghĩa vụ phải làm như vậy theo cách thức cụ thể, phù hợp với trách nhiệm của họ trong tư cách là chính trị gia. Đối mặt với các dự luật pháp lý ủng hộ sự kết hợp đồng tính, các chính khách Công giáo phải lưu tâm đến các hướng dẫn đạo đức sau đây.

Khi dự luật ủng hộ việc công nhận sự kết hợp đồng tính được đề xuất lần đầu tiên trong cuộc họp lập pháp, nhà lập pháp Công giáo có bổn phận luân lý phải diễn tả quan điểm phản đối của mình cách rõ ràng và công khai, đồng thời bỏ phiếu chống lại nó. Việc bỏ phiếu ủng hộ một đạo luật gây hại cho lợi ích chung là phi luân lý cách nghiêm trọng.

Khi đạo luật ủng hộ việc công nhận sự kết hợp đồng tính đã có hiệu lực rồi, chính trị gia Công giáo phải phản đối nó theo những cách họ có thể có và làm cho việc phản đối của mình được biết đến; đây là bổn phận của họ nhằm làm chứng cho sự thật. Nếu không thể bãi bỏ hoàn toàn một đạo luật như thế, như một gợi nhắc các chỉ dẫn chứa đựng trong Thông điệp Evangelium vitae, chính trị gia Công giáo “có thể ủng hộ các đề xuất nhằm hạn chế những thiệt hại do một đạo luật như thế gây ra đồng thời nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực của nó ở mức ý kiến chung và luân lý cộng đồng”, với điều kiện là một mặt, “sự phản đối hoàn toàn cá nhân” của người ấy đối với những luật như thế phải rõ ràng và được nhiều người biết đến; mặt khác, tránh những nguy cơ gây gương xấu. Điều này không có nghĩa là một luật giới hạn hơn về lãnh vực này có thể được xem là đúng hay thậm chí là chấp nhận được; đúng hơn, đây là vấn đề nỗ lực chính đáng và trách nhiệm để đạt tới ít nhất là việc bãi bỏ một phần của đạo luật không chính đáng khi mà tổng số phiếu chống nó chưa đủ ở thời điểm hiện tại.

KẾT LUẬN

11. Hội thánh dạy rằng sự tôn trọng đối với những người đồng tính dù thế nào cũng không thể dẫn tới việc ủng hộ hành vi đồng tính hay công nhận tính hợp pháp của việc kết hợp đồng tính. Lợi ích chung đòi buộc các đạo luật công nhận, thăng tiến và bảo vệ hôn nhân như nền tảng của gia đình, đơn vị căn bản của xã hội. Việc công nhận pháp lý cho sự kết hợp đồng tính hoặc đặt chúng ngang với tầm mức hôn nhân có nghĩa không chỉ ủng hộ lối cư xử lệch lạc, đi kèm với hậu quả là tạo nên một mẫu thức trong xã hội hôm nay, mà còn làm lu mờ các giá trị căn bản vốn thuộc về di sản chung của cả nhân loại. Hội thánh không thể không bảo vệ các giá trị này, vì lợi ích của mọi người và của chính xã hội.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong buổi tiếp kiến ngày 28 tháng 03 năm 2003, đã chuẩn nhận Bản Những Xem Xét này, được thông qua trong buổi họp thường kỳ của Bộ này, và ban lệnh ấn hành.

Rôma, từ văn phòng của Bộ Giáo lý Đức tin, ngày 03 tháng 06 năm 2003, Lễ nhớ thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo.

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger
Bộ trưởng

Angelo Amato, S.D.B.
Tổng Giám mục hiệu tòa Sila
Thư ký

Chuyển ngữ: BS Trần Như Ý Lan, C.N.D

Chuyển ngữ từ: vatican.va

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 102 (tháng 9&10 năm 2017)