Giáo dục là lộ trình dẫn đến sự sống

Giáo dục được trình bày như con đường dẫn đến sự sống, mở ra hy vọng cho người di cư và tị nạn giữa những đổ vỡ của ly hương. Không chỉ là phương tiện mưu sinh, giáo dục còn là hành trình chữa lành, hội nhập và khám phá ơn gọi con người trong ánh sáng phẩm giá và tình liên đới.

Những người tị nạn, các di dân và những người phải di dời trong nước là những cá nhân và cộng đồng buộc phải rời bỏ nơi chốn vì bị bách hại, bất công, thiên tai và chiến tranh. Trong số đó có cả những người vì đói nghèo – và thực sự là tuyệt vọng – buộc phải tìm đến một nơi mà họ, đặc biệt là con cái họ, có thể thực sự được sống. Trong tất cả những hoàn cảnh này, dù có vô vàn thử thách và trở ngại, giáo dục vẫn có thể tạo ra sự khác biệt then chốt: nó có thể trang bị cho mỗi người khả năng xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân, cho gia đình, cho dân tộc của họ, cho xã hội nơi họ sẽ định cư, và thậm chí cả nơi mà họ đã rời bỏ.

Tôi xuất thân từ một gia đình di cư – tị nạn; tôi mới hai tuổi rưỡi khi gia đình tôi rời Tiệp Khắc để đến Canada. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi hiểu rằng khi rời bỏ quê hương, người ta sẽ không bao giờ có thể có một quê hương khác như thế nữa. Người ta có thể tìm thấy một nơi tương tự như quê hương, nhưng luôn tồn tại một thực tại còn sót lại không thể hòa tan vào hiện tại: phần còn sót lại ấy là sự mất mát vĩnh viễn về văn hóa, ngôn ngữ, mạng lưới các mối tương quan, cách tương tác với thiên nhiên. Nói ngắn gọn, đó là sự mất đi thế giới mà trong đó mỗi người chúng ta lần đầu tiên học cách trở thành một tạo vật được Thiên Chúa ban ân sủng. Giữa hai thái cực: né tránh sự đồng hóa và khao khát hội nhập có ý nghĩa, chính giáo dục mang lại cho chúng ta cơ hội để lấy lại phần nào những gì đã mất khi buộc phải rời bỏ cộng đồng nguyên quán, đồng thời tiếp nhận những điều mới mẻ.

Trong tiến trình dài hạn của việc chữa lành những vết thương do bạo lực trực tiếp và cơ cấu gây ra nơi những người phải ly hương, và trong tiến trình học cách vun đắp một niềm hy vọng sinh động giữa vô vàn lý do gây tuyệt vọng ngày một gia tăng, giáo dục chính là chìa khóa. Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là phương thế, vừa là đích đến vừa là lộ trình dẫn tới sự sống, bởi lẽ ngoài sức mạnh biến đổi xã hội trước mắt, giáo dục còn đáp ứng một phẩm chất căn bản của con người: khát vọng học hỏi, tìm hiểu, và vượt lên chính mình trong chiêm niệm về những câu hỏi lớn lao của đời sống và thế giới – những câu hỏi luôn cần một lời đáp.

Khi suy tư về giáo dục với và cho các cộng đồng di cư và tị nạn, chúng ta hãy luôn nhớ rằng, về bản chất, giáo dục chạm đến mầu nhiệm con người tại nơi sâu thẳm nhất – là vùng đất thánh thiêng vượt xa mọi công dụng thực tế hay thực dụng của giáo dục, dù những công dụng ấy có quan trọng và cần thiết thế nào đi nữa cho sự sống còn, ổn định và thăng tiến trong xã hội. Chính khi đặt nền móng cho quan niệm của chúng ta về giáo dục trong chân trời rộng lớn về bản tính con người luôn hướng đến những câu hỏi vô tận và những lời đáp vô hạn, về khả năng học hỏi và nhận biết vô biên, và về sự thật rằng mỗi người chúng ta là một câu hỏi sống động về chính mình – thì lúc ấy, chúng ta mới có thể bảo đảm rằng việc giáo dục nơi các cộng đồng người di cư và tị nạn không bị thu hẹp thành công cụ thuần túy, không bị giản lược thành “tôi học để kiếm sống”, mà luôn được định hướng tới sự viên mãn của huyền nhiệm làm người.

Thông điệp Laudato Si’ (LS) cho thấy rõ rằng hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới nơi mà mô hình kỹ trị đã được toàn cầu hóa, trong đó thế giới và sự sống bị giản lược thành một vấn đề cần được giải quyết bằng công nghệ hoặc khoa học; ở đó, con người – với tư cách một chủ thể – “sử dụng các quy trình hợp lý và logic để dần dần tiếp cận và kiểm soát một đối tượng bên ngoài” (LS 106). Đức Phanxicô nhắc chúng ta rằng nhân loại đang đứng trước một thách đố lớn lao về văn hóa, tinh thần và giáo dục (LS 202). Chúng ta không được để cho những nhịp cầu giáo dục mà chúng ta xây dựng lại vô tình củng cố và khuếch đại chính mô hình kỹ trị đó – một mô hình rốt cuộc biến con người thành một vấn đề cần giải quyết thay vì một mầu nhiệm cần được gặp gỡ. Cách chúng ta nghĩ về giáo dục với và cho các các cộng đồng di cư, tị nạn, cũng không phải là ngoại lệ.

Chân trời rộng lớn hơn của giáo dục hiểu như cùng đích đồng thời là phương thế của huyền nhiệm làm người, được đặt nền trên các môn nhân văn, nền giáo dục đó không được trở thành đặc quyền của một thiểu số. Trên toàn cầu, chúng ta đang chứng kiến sự mất dần của các ngành khoa học nhân văn như một phần thiết yếu của giáo dục. Những gì trước đây được gọi là nghệ thuật khai phóng (liberal arts) – những phương thức tư duy giúp con người hướng đến tự do trong suy nghĩ và hành động – đang dần bị thay thế bởi các hình thức tri thức kỹ thuật và công cụ. Khi đáp ứng những nhu cầu giáo dục của các cộng đồng người di cư và tị nạn, cám dỗ thường là chỉ tập trung xây dựng những chương trình giải quyết nhu cầu tức thời. Tuy nhiên, chúng ta cần luôn mở ra những khả thể dài hạn – cụ thể là một chân trời giáo dục rộng mở, nơi học sinh có thể tiếp cận với kho tàng văn chương kinh điển của thế giới, các lối tư duy triết học, truyền thống tôn giáo, âm nhạc, nghệ thuật, sân khấu, các nền văn hóa trung cổ, tri thức và sự khôn ngoan cổ xưa, và những thế giới quan phong phú có khả năng làm giàu cho toàn diện con người và cộng đồng mà họ thuộc về. Những cộng đồng bị cưỡng bức phải ly hương, người nghèo, và tất cả những ai không thường được đặt ở trung tâm các hệ thống giáo dục hiện nay, thực ra lại chính là những người xứng đáng nhận được một nền giáo dục tốt nhất – một nền giáo dục nuôi dưỡng trí tuệ, trái tim và tinh thần, vốn dẫn con người đến với mầu nhiệm của tha nhân và của Đấng Hoàn Toàn Khác.

Đối với các bậc cha mẹ tị nạn, giáo dục thường là niềm khát khao lớn nhất họ dành cho con cái, và chính các em thường có động lực và thậm chí bị thúc ép phải học thật giỏi. Vì thế, khi chúng ta hình dung những hành trình giáo dục dành cho học sinh di cư hoặc tị nạn, chúng ta cần đưa cả phụ huynh và cộng đồng của các em vào quá trình thiết kế chính sách tiếp cận giáo dục. Nghiên cứu cho thấy rằng cuộc khủng hoảng về sự cô lập – vốn hiện diện rõ nét tại Bắc bán cầu nhưng cũng đang lan rộng đến nhiều xã hội khác – là yếu tố làm cản trở sự tiến bộ học tập và dẫn đến việc bỏ học. Ngược lại, “trẻ em và thanh thiếu niên có những mối tương quan tích cực với bạn bè, cha mẹ và thầy cô thường đạt được kết quả học tập tốt hơn”. Cốt lõi của việc học là một cộng đồng – một cộng đồng tạo nên sự thân tình đủ để phá vỡ mô thức cô lập mà các cơ chế loại trừ trong xã hội thường áp đặt lên con người.

Việc học tập đòi hỏi phải có sự tín nhiệm. Học sinh cần có đủ sự gần gũi để có thể kết nối trọn vẹn với hiện tại, mà không bị đè nặng bởi nỗi bất an về một tương lai bấp bênh hay những vết thương chưa được chữa lành trong quá khứ. Một trong những thách đố của giáo dục dành cho người di cư và tị nạn chính là nó diễn ra giữa những mối tương quan xã hội đã bị tổn thương. Vì thế, các chương trình giáo dục cần thiết kế những tiến trình học tập chú trọng đến hạ tầng xã hội – tức là việc xây dựng và củng cố các mối dây liên kết cộng đồng – cả trong nội bộ cơ sở giáo dục lẫn vượt ra ngoài phạm vi của nó. Các cơ sở giáo dục của chúng ta cần trở thành những trung tâm của sự đa dạng văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo, nơi mà các mục tiêu giáo dục giúp học sinh và gia đình họ bắt đầu định vị lại bản thân, hy vọng và hoài bão của mình. Mục tiêu của giáo dục luôn mang tính cộng đồng, bởi chính trong cộng đồng mà mỗi người chúng ta mới có thể tìm ra con đường cho ơn gọi độc nhất của đời mình. “Ơn gọi không phải là một nghề nghiệp. Chắc chắn nó không phải là ‘công việc’, lại càng không phải là ‘việc làm’.” Trái lại, ơn gọi là điều “chuyển động từ bên trong, mời gọi được lắng nghe và bước theo. Nó vẫy gọi chúng ta trở về nhà”. Giáo dục là lộ trình dẫn tới sự sống, tới việc khám phá ơn gọi, và kiến tạo một mái nhà – ngay cả giữa những hệ quả còn tiếp diễn của việc phải rời bỏ quê hương.

Bốn động từ mà Đức Giáo hoàng Phanxicô thường dùng khi nói về người di cư và tị nạn – chào đón, bảo vệ, thăng tiến, hội nhập – đều có thể được áp dụng cho các cơ sở giáo dục. Mỗi cơ sở giáo dục cần chia những động từ này theo thực tế địa phương của mình, và cần tự vấn xem liệu những động từ đó được thể hiện theo cách nào, đang được hiện thực hóa hay đang vắng bóng. Họ có thể tự đặt ra những câu hỏi như sau: Cơ sở giáo dục của tôi có chào đón người di cư và tị nạn không? Có thể hiện rõ rằng họ được chào đón chăng? Cơ sở của tôi có tạo điều kiện cho việc tiếp nhận họ, hay làm cho việc ấy trở nên cực kỳ khó khăn? Sau khi tiếp nhận, những cơ chế nào bảo vệ phẩm giá và sự an toàn của người di cư và tị nạn bất kể tình trạng pháp lý của họ? Chúng ta có nhìn nhận những khác biệt và khẳng định rằng những khác biệt ấy như là điều tốt đẹp và là món quà không? Chúng ta có thúc đẩy để họ phát triển trọn vẹn tiềm năng, trong sự đa dạng văn hóa và tôn giáo vốn là một phần trong nhân tính của họ không?

Nền giáo dục Công giáo phải giúp cho người tị nạn, di cư cưỡng bức và các cá nhân cũng như cộng đồng phải di dời trong nước tiếp cận được với chương trình đào tạo có chất lượng. Điều này sẽ góp phần thực thi sứ mạng của Giáo hội là thúc đẩy “sự phát triển toàn diện của toàn thể Dân Chúa, bảo đảm rằng không ai bị loại trừ”. Nói theo lời của Chúa Giêsu, đây chính là việc trao ban “sự sống, và là sự sống dồi dào” (Ga 10,10); hay theo cách diễn đạt của Dòng Tên, đó là việc góp phần giúp họ trở thành những “người nam, người nữ sống cho người khác” – những con người biết hiến dâng chính mình cho sự sống lớn lao hơn của tha nhân.

Một nền giáo dục đặt trọng tâm nơi tha nhân là điều áp dụng cho mọi sinh viên, bao gồm cả sinh viên là người di cư và tị nạn. Trong bối cảnh đại học Công giáo, Đức Phanxicô gần đây đã đặt câu hỏi: “Học để làm gì? Cho chính mình? Để có trách nhiệm với người khác? Chúng ta cần học để có khả năng giáo dục và phục vụ tha nhân – và để phục vụ với sự chuyên nghiệp và tự tin. Trước khi tự hỏi liệu việc học có lợi ích gì, chúng ta nên đặt câu hỏi trước hết: liệu việc học ấy có ích cho ai không? Đây là một câu hỏi rất đẹp mà một sinh viên đại học có thể tự hỏi: tôi có thể phục vụ ai? Chỉ phục vụ bản thân mình thôi sao? Hay tôi có một trái tim rộng mở cho một hình thức phục vụ khác? Khi đó, một tấm bằng đại học sẽ trở thành dấu chỉ cho khả năng phục vụ công ích. Tôi học cho bản thân, cho công việc, để trở nên hữu ích, để góp phần vào công ích. Điều này đòi hỏi một sự quân bình rất lớn”.

Những nhận định của Đức Phanxicô mời gọi chúng ta suy tư sâu xa hơn về giáo dục như một hành trình lâu dài và hướng đến tha nhân, vượt lên trên những lợi ích tức thời trước mắt. Giáo dục có thể khơi dậy nơi mỗi học viên một hành trình tìm kiếm chân lý và ý nghĩa mang tính cá nhân cũng như siêu việt trong cuộc đời mỗi người. Không chỉ cải thiện cuộc sống của từng cá nhân, giáo dục còn tác động đến cả gia đình lẫn cộng đồng, như một phần của hạ tầng xã hội giáo dục.

Tôi nhớ đến Đại học Trung Mỹ (Universidad Centroamericana) tại El Salvador, nơi tôi đã từng sống một thời gian sau khi các anh em dòng Tên của tôi bị sát hại vào năm 1989. Ban lãnh đạo nhà trường đã dùng thuật ngữ “proyección social” – nghĩa là “dấn thân xã hội” – để mô tả cách thức mà một trường đại học, với kiến thức và chuyên môn của mình, phải tự phóng chiếu ra bên ngoài để tác động đến hiện thực quốc gia – tức là hiện trạng thật sự của một xã hội với những bất công, cơ cấu loại trừ, bạo lực, tham nhũng, và tất cả những gì không nuôi dưỡng tự do, liên đới và tôn trọng phẩm giá con người. Họ hình dung và xây dựng một cộng đồng đại học mà trọng tâm của nó nằm ở bên ngoài chính mình.

Tương tự, lời mời gọi của Đức Phanxicô khuyến khích sinh viên phân định và hiểu rằng việc học là sự chuẩn bị để phục vụ một nhân loại bị tổn thương, chạm đến những vết thương của lịch sử. Chính qua một nền giáo dục lấy tha nhân làm trung tâm, sinh viên mới có thể kháng cự lại mô hình kỹ trị đang thống trị – một mô hình tìm cách kiểm soát hơn là giải phóng con người, các cơ cấu xã hội và thế giới thụ tạo.

Đức Phanxicô nhấn mạnh mối liên hệ giữa việc tìm kiếm chân lý và tự do trong môi trường đại học: “Đừng quên rằng việc học chỉ có ý nghĩa khi nó tìm kiếm chân lý. Trong hành trình tìm kiếm đó, chúng ta hiểu rằng con người được tạo dựng để tìm ra chân lý. Chân lý là điều có thể được tìm thấy, bởi vì nó mời gọi, có thể đạt tới, và quảng đại. Nhưng nếu chúng ta từ bỏ việc tìm kiếm chân lý, thì việc học sẽ trở thành công cụ của quyền lực, một cách để kiểm soát người khác; nó không còn phục vụ, mà trở thành thống trị. Tôi phải thú nhận rằng tôi rất buồn khi thấy một trường đại học chỉ đào tạo sinh viên để kiếm tiền hoặc đạt quyền lực. Đó là một lối học quá cá nhân, không có tính cộng đồng. Alma mater phải là một cộng đồng đại học góp phần định hình xã hội, kiến tạo tình huynh đệ. Việc học sẽ không có ích nếu không bao hàm một hành trình tìm kiếm chân lý chung. Nó không còn là sự trợ giúp, mà trở thành sự thống trị. Trong khi đó, chính chân lý sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8,32)”.

Chân lý, theo nghĩa rộng nhất, là phẩm chất của việc sống trong mối tương quan đúng đắn với thực tại: với thực tại của chính mình, của người khác và của thế giới. Khi nghĩ cụ thể đến những sinh viên phải di dời vì bạo lực hay thảm họa, hành trình tìm kiếm chân lý là một trách nhiệm nặng nề và đồng thời là một hành trình giải phóng, có sức lan tỏa đến toàn thể cộng đồng giáo dục. Một cộng đồng học tập chắc chắn được làm phong phú hơn nhờ sự hiện diện của người tị nạn và di cư, những người đang dệt nên chân lý của chính cuộc sống và thế giới họ đang sống vào tấm thảm chung của cộng đồng đại học. Cả hai phía cùng được biến đổi nhờ cuộc gặp gỡ giáo dục và hành trình tìm kiếm chân lý chung đó.

Tuy nhiên, khi nói đến việc tiếp cận cơ hội giáo dục, người di cư và tị nạn phải đối mặt với nhiều trở ngại. Những quốc gia vốn đã gặp khó khăn trong việc cung cấp giáo dục cho chính dân cư của mình thường không đủ nguồn lực và khả năng để hỗ trợ cần thiết cho người di cư và tị nạn. Thêm vào đó, người tị nạn thường bị hạn chế quyền tự do đi lại và gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục hoặc đào tạo với chi phí hợp lý. Hơn nữa, ngay cả những người đã có trình độ học vấn cao cũng gần như không thể được công nhận văn bằng hoặc năng lực chuyên môn.

Trước những thách đố này, mọi nỗ lực nhằm cải thiện chất lượng giáo dục cho người di cư và tị nạn cần bắt đầu bằng việc lắng nghe chính những người bị buộc phải rời bỏ quê hương. Mục tiêu là để cung cấp những định hướng thiết thực cho nghiên cứu giáo dục, hoạch định chính sách, và hoạt động mục vụ. Dưới góc nhìn mang tính giáo hội, điều quan trọng là phải kết hợp giữa suy tư khoa học và thần học, đồng thời các cơ sở giáo dục cần cộng tác chặt chẽ với Giáo hội địa phương khi xây dựng các chương trình. Một ví dụ điển hình là việc tổ chức các khóa đào tạo cho nhân sự mục vụ, để họ có thể tham gia vào nhiều sáng kiến khác nhau nhằm đồng hành và hỗ trợ người di cư và tị nạn.

Ngày nay, chúng ta chứng kiến khoảng cách giáo dục giữa người tị nạn và các bạn đồng trang lứa trong cộng đồng sở tại vẫn còn rất lớn, đặc biệt ở các bậc học cao hơn. Tính đến năm 2023, chỉ khoảng 7% người tị nạn trên toàn thế giới có cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo sau trung học, mặc dù đây là yếu tố thiết yếu cho sự thành công của họ. Cơ hội làm việc, kiếm sống và tự lập là những cách hiệu quả nhất để người tị nạn tái thiết cuộc sống của mình. Giáo dục ở mọi cấp độ có thể mở ra cơ hội để trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tị nạn tham gia vào đời sống cộng đồng địa phương, thậm chí bước đầu hội nhập vào xã hội.

Theo một báo cáo của Dịch vụ Dòng Tên cho Người Tị nạn (Jesuit Refugee Service – JRS) năm 2022, giáo dục sau trung học giúp tạo điều kiện để người di cư và tị nạn có được sinh kế bền vững mà không phải phụ thuộc vào viện trợ nhân đạo. Nó cho phép người di cư và cưỡng bức tị nạn đạt được sự độc lập về kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống, bất kể họ đang ở đâu hoặc thời gian sống lưu vong kéo dài bao lâu; đồng thời thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế – xã hội sâu rộng hơn vào cộng đồng sở tại. Điều này đặc biệt quan trọng vì ba phần tư người tị nạn (76%) đã phải sống lưu vong ít nhất năm năm liên tục.

Một đóng góp thiết thực và quan trọng mà các trường đại học Công giáo có thể mang lại để trao quyền cho người di cư và tị nạn, đồng thời đối diện với những thách đố đã nêu, chính là việc công nhận lẫn nhau các văn bằng học thuật. Bằng cấp học thuật và chuyên môn của người di cư và người tị nạn thường cần được cập nhật hoặc nâng cấp – và đây là những chương trình mà các đại học Công giáo cần có khả năng cung cấp.

Về điều này, như Đức Thánh Cha nhận định: “Cách tiếp cận liên ngành, hợp tác quốc tế và chia sẻ nguồn lực là những yếu tố quan trọng, giúp cho tính phổ quát được chuyển hóa thành những dự án chung sinh hoa kết trái vì lợi ích của nhân loại, của mọi người nam nữ, và của môi trường nơi họ sống và lớn lên”. Ngài tiếp tục nhắc nhở rằng một trường đại học, xét về bản chất, phải mang tính phổ quát nhưng cũng được đặt nền trên thực tại địa phương: “Với tinh thần cởi mở mang tính phổ quát của mình (chính là tư cách một universitas), anh chị em có thể làm cho đại học Công giáo trở thành một nơi tìm kiếm các giải pháp cho sự tiến bộ dân sự và văn hóa của mỗi con người và của toàn thể nhân loại, được đánh dấu bởi tình liên đới, với lòng kiên trì và tinh thần chuyên nghiệp. Anh chị em cũng có thể khảo sát những vấn đề nhất thời mà không đánh mất tầm nhìn về các giá trị phổ quát. Những vấn đề cũ và mới cần được nghiên cứu một cách cụ thể và khẩn thiết, nhưng luôn đặt trong một viễn tượng vừa mang tính cá vị vừa mang tính toàn cầu”.

Giáo dục Công giáo phải luôn sẵn sàng phục vụ mọi người, không phân biệt tôn giáo. Tuy nhiên, điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng: Làm thế nào để các trường học của chúng ta có thể đảm bảo việc đào tạo tôn giáo và thiêng liêng mà người di cư và người tị nạn Công giáo xứng đáng được hưởng? Và nếu có thể, việc đào tạo này nên được thực hiện như thế nào trong mối hiệp thông với Giáo hội địa phương?

Trong ý cầu nguyện đầu tiên của Năm Thánh 2025, Đức Phanxicô đã mời gọi chúng ta: “Cầu nguyện cho những người di cư, người tị nạn và những ai bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, để quyền được giáo dục của họ, vốn là điều cần thiết để xây dựng một thế giới nhân bản hơn, luôn được tôn trọng”.

Kết luận, những cá nhân và cộng đồng bị buộc phải ly hương là những người tị nạn vì tuyệt vọng, nhưng khẩu hiệu của Năm Thánh 2025 lại mời gọi tất cả chúng ta trở thành “Những người hành hương của Hy vọng”. Chính giữa hai thái cực – tuyệt vọng và hy vọng – mà những người “bị bật rễ và ly tán” đang bước đi. Nguyện cho nền giáo dục Công giáo cùng bước đi với họ, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa. Bởi vì hành trình cao cả của giáo dục chính là một lộ trình dẫn đến sự sống.

Chuyển ngữ: Nt. Anna Ngọc Diệp, Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Chuyển ngữ từ: laciviltacattolica.com

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)