Bài viết này gồm ba phần của Tiến sĩ Alessandro Rovati trình bày một phân tích về những giải thích của Huấn quyền thông thường liên quan đến bản chất của tính hiệp hành, những lý do vì sao cần nhấn mạnh đến tính hiệp hành trong bối cảnh hiện nay, cũng như một số thực hành thích hợp trong đời sống giáo phận. Đặc biệt, bài viết tập trung vào những đóng góp phong phú của Đức Giáo hoàng Phanxicô và những kết quả do Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành công bố. Dưới đây là Phần II của bài viết.Phần Hai: Tính hiệp hành là gì?
Tính hiệp hành là “sự diễn tả bản chất, hình thức, phong cách và sứ mạng của Giáo hội”. Các thuật ngữ “tính hiệp hành” (synodality) và “hiệp hành” (synodal) bắt nguồn từ thực hành lâu đời và liên tục của Giáo hội về việc tập hợp lại trong các công nghị (Văn kiện Chung kết, số 28). Dù mang nhiều hình thức khác nhau trong dòng lịch sử, các cuộc quy tụ ấy vẫn thống nhất ở một điểm căn bản là Giáo hội cùng nhau quy tụ để đối thoại, phân định và đưa ra quyết định. Chứng từ sớm nhất về tính hiệp hành xuất phát từ chính Kinh thánh. Trong sách Công vụ Tông đồ, chúng ta thấy bằng chứng về cách cộng đoàn của các Tông đồ sống tinh thần chung để chuyển trao và làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Các ngài thực hiện điều ấy nhờ tin vào “sự hiện diện của Chúa Phục sinh” qua hồng ân của Chúa Thánh Thần, và không ngừng “lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần và phân định con đường phải đi”
Theo đó, “tính hiệp hành” là một thuật ngữ mới nhằm diễn tả và gợi mở những cách thế cụ thể để thể hiện một thực tại vốn nằm ở trung tâm của đức tin Kitô giáo, đó là sự hiệp thông. Văn kiện Chung kết triển khai thêm ý tưởng này khi giải thích rằng khái niệm hiệp thông đã được Giáo hội sử dụng ngay từ thuở ban đầu để diễn tả cốt lõi mầu nhiệm và sứ mạng của mình (Văn kiện Chung kết, số 31). Đây là một thực tại được Công đồng Vaticanô II đặc biệt nhấn mạnh, và chúng ta được mời gọi ngày càng đào sâu nhận thức về thực tại ấy cũng như sống thực tại ấy cách cụ thể hơn. Thật vậy, ý tưởng về tính hiệp hành được bén rễ trong giáo huấn của Công đồng Vaticanô II và là một hành vi tiếp nhận Công đồng, khai thác tầm nhìn của Công đồng và làm cho tầm nhìn ấy trở nên sinh động trong bối cảnh hôm nay (Văn kiện Chung kết, số 5). Cụ thể, một trong những mục tiêu chính của Thượng Hội đồng là “đưa vào thực hành những gì Công đồng đã dạy về Giáo hội như là mầu nhiệm và Giáo hội như là Dân Thiên Chúa, được kêu gọi nên thánh qua một cuộc hoán cải liên tục xuất phát từ việc lắng nghe Tin mừng” (Văn kiện Chung kết, số 5).Vì điều này có ý nghĩa nền tảng đối với tính hiệp hành, chúng ta hãy đào sâu hơn những gì Công đồng Vaticanô II, dựa trên kho tàng Kinh thánh và Truyền thống sống động của Giáo hội đã dạy về bản chất và sứ mạng của Giáo hội.
Như Hiến chế Tín lý về Giáo hội của Công đồng Vaticanô II Lumen Gentium (LG) giải thích rằng, Giáo hội là Dân thánh của Thiên Chúa, là một sự hiệp thông được quy tụ bởi Chúa Thánh Thần, để tiến bước cùng nhau trong cuộc lữ hành trần thế hướng về Chúa. Dựa trên giáo huấn của Công đồng, Văn kiện Chung kết mô tả rằng: “Ơn gọi và việc thi hành chức vụ ngôn sứ của Giáo hội (x. LG 12) cốt ở việc làm chứng cho kế hoạch của Thiên Chúa nhằm hiệp nhất toàn thể nhân loại với Ngài trong sự tự do và hiệp thông. Văn kiện tiếp tục nói rằng, “Giáo hội là ‘vương quốc Chúa Kitô đang hiện diện cách mầu nhiệm’ (LG 3), và ‘là hạt mầm và điểm khai nguyên của vương quốc ấy trên trần gian’ (LG 5). Do đó, Giáo hội cùng bước đi với toàn thể nhân loại, dấn thân với tất cả năng lực của mình cho công lý và hòa bình, cho phẩm giá con người và công ích. Thực thi tất cả điều này, trong khi Giáo hội ‘khát mong vương quốc ấy được thành toàn’ (LG 5), khi Thiên Chúa ‘có toàn quyền trên muôn loài’” (1Cr 15,28) (Văn kiện Chung kết, số 20). Tính hiệp hành là một cách thế để Giáo hội đặt một mầu nhiệm kép ở trung tâm đời sống và giáo huấn của mình. Trước hết, cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh nhờ Bí tích Thánh tẩy là nơi con người kinh nghiệm sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thứ đến, sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi mà mỗi người được tháp nhập vào ấy cũng chính là nguồn mạch của sự hiệp nhất và hiệp thông với tất cả anh chị em Kitô hữu. Chính tại đây, chúng ta nhận ra mối liên hệ sâu xa giữa tính hiệp hành với đời sống bí tích và nền thần học của Giáo hội.
Bí tích Rửa tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, và việc suy tư về tính hiệp hành mời gọi chúng ta tìm lại chiều sâu và vẻ đẹp của những gì xảy ra với mỗi người khi chúng ta được rửa tội. Văn kiện chung kết giải thích rằng Bí tích Rửa tội, “dẫn đưa mọi người vào hồng ân cao cả nhất, đó là trở thành con cái Thiên Chúa, tức là được tham dự vào mối tương quan của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Không có gì cao trọng hơn phẩm giá phát xuất từ Bí tích Rửa tội vốn được trao ban cách bình đẳng cho mọi người, qua đó chúng ta được mời gọi mặc lấy Đức Kitô và được tháp nhập vào Người như những cành nho gắn liền với cây nho duy nhất” (Văn kiện chung kết, số 21). Hơn nữa, hành trình hiệp hành mời gọi chúng ta khám phá lại rằng trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta tìm thấy “nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô hữu” (LG 11). Cộng đoàn Thánh Thể là một sự hiện thực hóa tiêu biểu của tính hiệp hành, vì trong đó chúng ta thấy sự hiệp nhất và hòa hợp có được nhờ việc được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và đón nhận sự hiện diện của Người một cách bí tích. Đó là một sự hiệp nhất không phủ nhận nguồn gốc, đặc sủng và vai trò khác nhau của chúng ta; trái lại, biến đổi chúng ta thành một thân thể duy nhất của Đức Kitô (Văn kiện chung kết, số 26–7). Các kết luận của Thượng Hội đồng nhấn mạnh khẳng định này bằng cách dẫn chúng ta đến các giáo huấn của Thánh Phaolô: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể (1 Cr 10, 17). Văn kiện giải thích thêm rằng, Giáo hội được nuôi dưỡng bởi Bí tích Mình và Máu Chúa,”, “được thiết lập thành thân thể của Người (x. LG 7): “Anh em là thân thể Đức Kitô và mỗi người là một bộ phận (1 Cr 12, 27)’” (Văn kiện chung kết, số 16). Cuối cùng, tính hiệp hành cũng khuyến khích chúng ta suy niệm về Bí tích Thêm sức và mầu nhiệm Lễ Ngũ tuần, mà ân sủng của các Bí tích ấy được thông truyền một cách hiệu quả cho những người lãnh nhận. Như Văn kiện chung kết giải thích: Thánh Thần mà Chúa Giêsu được tràn đầy (x. Lc 4,1), Đấng đã xức dầu và sai Người đi loan báo Tin mừng (x. Lc 4,18), cũng chính là Thánh Thần được tuôn đổ trên các tín hữu như dấu ấn của sự thuộc về Thiên Chúa và như việc xức dầu để thánh hóa. Vì lý do này, Bí tích Thêm sức làm cho ân sủng Lễ Hiện Xuống trở nên hiện diện trong đời sống của người đã lãnh Bí tích Rửa tội và của cộng đoàn. Bí tích này là một hồng ân có giá trị lớn lao để tái hiện phép lạ của một Giáo hội được thúc đẩy bởi ngọn lửa sứ vụ, có can đảm để ra đi đến vào các nẻo đường của thế giới, và có khả năng làm cho mình được nhận hiểu bởi mọi dân tộc và mọi nền văn hóa (Văn kiện chung kết, số 25).
Điểm thứ hai này mang tính thiết yếu: tính hiệp hành không phải là cứu cánh tự thân. Như Đức Giáo hoàng Lêô XIV gần đây đã giải thích, đó là “một con đường hiệp thông hướng tới sứ mạng”. Vì thế, tính hiệp hành hoàn toàn phục vụ cho việc loan báo Tin mừng cho mọi người nam nữ của thời đại hôm nay. Khi nhấn mạnh đến sự hiệp thông, tính hiệp hành cho thấy rằng những mối dây gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và với nhau không tồn tại chỉ vì chính chúng, nhưng vì Thiên Chúa quy tụ một dân thuộc về Người để dân ấy có thể vươn tới mọi người và chạm đến tất cả bằng Tin mừng cứu độ. Do đó, sự hiệp nhất mà Chúa Thánh Thần kiến tạo là để phục vụ sứ mạng. Mọi người đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, không loại trừ ai, đều được kêu gọi trở thành môn đệ thừa sai, nghĩa là “những sứ giả vui tươi của những lời mời gọi đầy thách đố, những người gìn giữ sự thiện hảo và vẻ đẹp tỏa sáng nơi một đời sống trung thành với Tin mừng” (EG 168). Điều đó không có nghĩa là tất cả chúng ta đều sẽ đáp trả trọn vẹn ơn gọi Thiên Chúa ban. Tuy nhiên, sự thật vẫn là: mỗi chi thể của Thân Thể Đức Kitô đều được Thiên Chúa mời gọi trở nên bí tích cứu độ cho toàn thế giới. Như Văn kiện Chung kết khẳng định: “Mọi tín hữu đều được kêu gọi đóng góp vào động lực này qua việc đón nhận các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban phát dồi dào cho mỗi người, và dấn thân dùng các đặc sủng ấy để phục vụ Nước Thiên Chúa, với lòng khiêm nhường và năng lực sáng tạo phong phú.” (Văn kiện Chung kết, số 25).
Đáp lại lời mời gọi của Chúa để trở nên “muối cho đời” (Mt 5,13) và “ánh sáng cho thế gian” (Mt 5,14) đòi hỏi một sự hoán cải kép. Một mặt, mọi Kitô hữu cần lắng nghe lời mời gọi của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ: “Hãy theo Thầy” (x. Mc 1,17) và “hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa” (x. Mt 9,2), như một lời được gửi đến chính mình. Tất cả những ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy đều đã nhận lãnh Chúa Thánh Thần; vì thế, chúng ta phải thực hiện lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa của Thánh Phêrô trong thư thứ nhất của ngài: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4,10). Mặt khác, các mục tử của Giáo hội cần “mở rộng các khả năng tham gia và thực thi tinh thần đồng trách nhiệm trong sự khác biệt của tất cả những người đã được rửa tội, nam cũng như nữ.” (Văn kiện Chung kết, số 36). Thật vậy, vai trò của các mục tử là nhận ra, phân định và quy tụ trong sự hiệp nhất những hồng ân mà Chúa Thánh Thần tuôn đổ trên các cá nhân và cộng đoàn, để những hồng ân ấy được sử dụng cho ích chung (Văn kiện Chung kết, số 69). Ở đây, cần nhấn mạnh rằng tính hiệp hành không đối nghịch với quyền bính mà Bí tích Truyền Chức thánh trao ban cho các mục tử. Trái lại, Văn kiện Chung kết nhìn nhận quyền bính ấy “là một hồng ân đặc biệt do Thánh Thần của Đức Kitô, Đấng là Đầu, để xây dựng toàn Thân thể” (Văn kiện Chung kết, số 33; trích Tính hiệp hành trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội, số 67). Văn kiện tiếp tục khẳng định: “Tính hiệp hành đưa ra khuôn khổ giải thích phù hợp nhất để hiểu chính thừa tác vụ có tính phẩm trật, đồng thời cung cấp bối cảnh đúng đắn để hiểu mệnh lệnh mà Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần ủy thác cho các mục tử.” (Văn kiện Chung kết, số 33). Tính hiệp hành giúp chúng ta nhận ra rằng các thừa tác viên có chức thánh phục vụ Dân thánh của Thiên Chúa bằng cách thông ban cho họ ân sủng các Bí tích, giảng dạy và gìn giữ đức tin chân chính, cũng như thăng tiến sự hiệp thông trong Giáo hội ở mọi cấp độ (Văn kiện Chung kết, số 33).
Tuy nhiên, chúng ta cần cải tổ một số cơ cấu tổ chức và thực hành của mình mà không làm phương hại đến cơ cấu nền tảng do Thiên Chúa thiết lập cho Giáo hội. Thật vậy, việc tái khám phá vai trò của mỗi Kitô hữu trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa theo các ân ban và bậc sống riêng, đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc nhìn lại các cộng đoàn của mình, để xem có những trở ngại nào đang ngăn cản Giáo hội đáp lại trọn vẹn lời mời gọi của Chúa. Như Joseph Ratzinger đã giải thích trong tác phẩm Called to Communion: “Sự canh tân không hệ tại ở việc liên tục nhào nặn lại ‘Giáo hội của chúng ta’ theo thị hiếu riêng, hay tự mình phát minh ra Giáo hội, nhưng là không ngừng loại bỏ những cấu trúc phụ thuộc do chúng ta dựng lên, để ánh sáng tinh tuyền từ trên cao có thể chiếu rọi, ánh sáng ấy cũng là bình minh của tự do đích thực.” Sau cùng, Văn kiện Chung kết khẳng định: “Tính hiệp hành là một hành trình canh tân tâm linh và cải tổ cơ cấu để làm cho Giáo hội có tính tham gia và truyền giáo nhiều hơn, để Giáo hội có thể bước đi với mọi người và chiếu tỏa ánh sáng của Đức Kitô (Văn kiện Chung kết, số 28).
Bằng việc đặt nền tảng trên Kinh thánh, lịch sử Giáo hội và suy tư của Huấn quyền về bản chất cũng như sứ mạng của Giáo hội, Văn kiện Chung kết giúp chúng ta nhận ra rằng nói đến tính hiệp hành là nói đến những chiều kích trung tâm và trường tồn của căn tính người môn đệ Đức Kitô bằng một khái niệm mới. Sau cùng, tình yêu và hiệp thông chính là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Thánh Gioan viết trong thư thứ nhất của ngài, “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa; ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,7).
Một lần nữa, Văn kiện Chung kết nhấn mạnh mối liên hệ giữa tính hiệp hành và khái niệm hiệp thông, đã giải thích rằng: Tính hiệp hành được hiểu “là cách sống và hoạt động [modus vivendi et operandi] đặc thù của Giáo hội là Dân Thiên Chúa, biểu lộ và hiện thực hóa cách cụ thể căn tính hiệp thông của mình trong việc bước đi cùng nhau, quy tụ thành cộng đoàn, và tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin mừng của tất cả các thành viên trong Giáo hội” (Văn kiện Chung kết, số 31; trích Tính hiệp hành trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội, số 6). Việc nhìn nhận hiệp thông và sứ mạng như hai yếu tố cốt yếu của đời sống Kitô giáo xuất phát trực tiếp từ Tin mừng. Chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện để các môn đệ được “nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta, hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Như thế, Người đã liên kết hai chiều kích thiết yếu của đời sống Kitô hữu mà tính hiệp hành muốn làm nổi bật: hiệp thông và sứ mạng.
Nếu Giáo hội đã thực sự sống sự hiệp thông và lòng nhiệt thành truyền giáo mà Chúa mời gọi các môn đệ của Người, và thể hiện những nguyên tắc ấy trong mọi cơ cấu cũng như thực hành của mình, thì chúng ta đã không cần phải nói nhiều về tính hiệp hành. Nhưng thực tế không phải như vậy. Chúng ta thường không để giáo huấn của Giáo hội định hình đời sống cá nhân và đời sống cộng đoàn của mình. Thay vì trở thành một sự hiệp thông trong đó mọi người cùng tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng, nhiều khi chúng ta sống đức tin với cùng một não trạng cá nhân chủ nghĩa, thờ ơ, khép kín và thiếu dấn thân như môi trường văn hóa chung quanh chúng ta (Văn kiện Chung kết, số 48). Chúng ta cũng bị cám dỗ thực thi vai trò lãnh đạo với thái độ gia trưởng hoặc độc tài (Văn kiện Chung kết, số 62), đặt nặng quyền lực và địa vị (Văn kiện Chung kết, số 74), thay vì coi đó là một hình thức phục vụ Dân thánh của Thiên Chúa (Văn kiện Chung kết, số 33). Văn kiện Chung kết nhắc nhở rằng “nhiều sự dữ đang hoành hành trong thế giới hôm nay cũng hiện diện trong Giáo hội” (Văn kiện Chung kết, số 55). Chúng ta cũng cảm nghiệm nỗi đau do những rào cản chia rẽ, những bất đồng đầu độc các mối tương quan, và cám dỗ thường xuyên loại trừ những người khác biệt với mình (chẳng hạn, không ít giáo xứ gặp khó khăn trong việc giúp các cộng đoàn nói tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha sống đức tin chung với nhau). Trên hết, chúng ta ý thức sâu sắc rằng “cuộc khủng hoảng lạm dụng, với nhiều hình thức bi thảm khác nhau, đã gây nên những đau khổ khôn kể và vẫn còn tiếp diễn cho các nạn nhân và những người sống sót, cũng như cho các cộng đoàn của họ” (Văn kiện Chung kết, số 55).
Thật vậy, không thể hiểu được sự kiên quyết nhấn mạnh của Đức Giáo hoàng về tính hiệp hành nếu không đặt nó trong bối cảnh lịch sử gần đây của các vụ bê bối và lạm dụng (Văn kiện Chung kết, số 46). Trong nhiều phương diện, sự nhấn mạnh ấy nhằm sửa chữa não trạng tự cho mình vượt trội hơn người khác và khuynh hướng bao che, là những điều đã tạo điều kiện cho việc lạm dụng xảy ra. Giáo hội phải nhìn nhận những khuyết điểm của mình, khiêm tốn cầu xin sự tha thứ, chăm sóc các nạn nhân, trang bị các công cụ phòng ngừa và cố gắng xây dựng lại sự tin tưởng lẫn nhau trong Chúa (Văn kiện Chung kết, số 55). Giáo hội phải lắng nghe những ai đã bị tổn thương bởi các thành viên của mình, hoặc đang chịu cảnh bị gạt ra bên lề hay bị loại trừ, bởi vì “việc mang lấy gánh nặng của những mối tương quan bị tổn thương là một phần trong sứ mạng của Giáo hội. Văn kiện Chung kết giải thích, “Giáo hội thực hiện điều này, để Chúa, Đấng Hằng Sống, sẽ chữa lành cho họ. Chỉ bằng cách này Giáo hội mới có thể “như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người” (LG 1) (Văn kiện Chung kết, số 56).
Vì thế, điều mà hoàn cảnh hiện nay đòi hỏi, đó là sự cộng tác và sự cộng tác chặt chẽ hơn trong sứ mạng truyền giáo giữa mọi thành phần trong Giáo hội thực sự kêu gọi chúng ta cải tổ một số phương diện trong cách thức Giáo hội vận hành. Đức Phanxicô khuyến khích chúng ta tự hỏi: “Liệu chúng ta có thực sự là những cộng đoàn mở ra và bao gồm mọi người hay không? Với tư cách linh mục và giáo dân, chúng ta có cộng tác với nhau trong việc phục vụ Tin mừng không? Và chúng ta có tỏ mình là những người đón tiếp không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng những cử chỉ cụ thể đối với những người ở gần cũng như ở xa, và với tất cả những ai đang chao đảo giữa những thăng trầm của cuộc sống hay không?” Mọi người đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy đều nên tự hỏi: “Tôi có thể làm gì cho Giáo hội?” Giữa những khó khăn hiện tại, Đức Phanxicô dạy rằng Kitô hữu không được mời gọi than phiền về Giáo hội, nhưng tái dấn thân cho Giáo hội, để tất cả có thể tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội với lòng nhiệt thành và khiêm tốn.
Đức Phanxicô giải thích: “Với lòng nhiệt thành, bởi vì chúng ta không thể đứng ngoài như những khán giả thụ động; với sự khiêm tốn, bởi vì sự dấn thân trong cộng đoàn không bao giờ có nghĩa là chiếm vị trí trung tâm, tự cho mình là hơn người và ngăn cản người khác đến gần.” Đó chính là ý nghĩa của một Giáo hội hiệp hành: mọi người đều có phần của mình; không ai thay thế người khác hay đứng trên người khác. Không có Kitô hữu hạng nhất hay hạng hai; tất cả đều đã được kêu gọi.
Sau khi đã trình bày những nền tảng thần học của tính hiệp hành, tôi xin hoàn tất phần mô tả bằng cách trình bày những thái độ và thực hành làm nên một Giáo hội hiệp hành. Điều này sẽ mở đường cho vấn đề sẽ được bàn đến trong phần tiếp theo của loạt bài gồm ba phần này: làm thế nào chúng ta có thể sống tính hiệp hành trong đời sống giáo phận.
Văn kiện Chung kết nêu bật sáu đặc điểm làm cho Giáo hội trở nên hiệp hành. Thứ nhất, một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội mang tính tương quan, gần gũi với con người, bởi vì đó là “nhà và gia đình của Thiên Chúa” (Văn kiện Chung kết, số 28). Thứ hai, đó là một Giáo hội cùng nhau bước đi “với Đức Kitô và hướng về Nước Thiên Chúa, trong hiệp thông với toàn thể nhân loại” (số 28). Thứ ba, đó là một Giáo hội hướng về sứ mạng; và thứ tư, là một Giáo hội quy tụ ở mọi cấp độ để “lắng nghe lẫn nhau, đối thoại và phân định cộng đoàn” (số 28). Thứ năm, đó là một Giáo hội tìm kiếm “sự đồng thuận như một biểu lộ của Đức Kitô đang hiện diện” (số 28). Và thứ sáu, đó là một Giáo hội đưa ra “các quyết định theo tinh thần đồng trách nhiệm trong sự khác biệt” (số 28). Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt triển khai sáu đặc điểm này.
Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội mang tính tương quan, bởi vì các mối tương quan là điều thiết yếu cho sự phát triển trọn vẹn của con người. Giáo hội được mời gọi trở nên phong phú trong các tương quan liên vị, phát xuất từ tình yêu hỗ tương, là điều làm nên điều răn mới mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ. Nhờ đó, chúng ta làm chứng cho sức mạnh của các mối tương quan bắt nguồn từ việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần, là hoa trái của lòng quảng đại và tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi dành cho nhân loại (Văn kiện Chung kết, số 34).
Tại đây, Văn kiện Chung kết nhấn mạnh một hình ảnh đẹp về Giáo hội như một mái nhà: “một bí tích của cuộc gặp gỡ và ơn cứu độ, một trường học của hiệp thông dành cho tất cả con cái của Thiên Chúa” (Văn kiện Chung kết, số 115). Giáo hội cũng là Dân Thiên Chúa đang cùng Đức Kitô bước đi: trong đó, mọi người đều được mời gọi trở nên những người hành hương của hy vọng.
Một Giáo hội hiệp hành là một cộng đoàn gồm những con người cùng bước đi với nhau, bởi vì Giáo hội bước theo dấu chân của Chúa Giêsu. Toàn bộ Tin mừng là câu chuyện của những cuộc gặp gỡ. Chúa Giêsu là hiện thân cho sự gần gũi, lòng trắc ẩn, sự dịu dàng và niềm thao thức đối với từng con người, điều mà Giáo hội được mời gọi noi theo và làm chuẩn mực cho đời sống của mình. Đức Phanxicô đã nhấn mạnh điều này trong bài giảng khai mạc Thượng Hội đồng: chúng ta được “mời gọi trở nên những chuyên gia trong nghệ thuật gặp gỡ”. Chúng ta không được trở thành những “chuyên gia tổ chức sự kiện hay lý thuyết hóa các vấn đề”, nhưng phải học biết dành “thời gian để gặp gỡ Chúa và gặp gỡ nhau; thời gian dành cho cầu nguyện và chầu Thánh Thể […], để lắng nghe điều mà Chúa Thánh Thần muốn nói với Giáo hội; thời gian nhìn vào mắt nhau và lắng nghe những gì người khác muốn nói giúp xây dựng sự đồng cảm, nhạy bén trước những thao thức của anh chị em mình, và để mình được phong phú nhờ sự đa dạng của các đặc sủng, ơn gọi và thừa tác vụ. Như chúng ta biết, mỗi cuộc gặp gỡ đều đòi hỏi sự cởi mở, can đảm và sẵn sàng để cho sự hiện diện và câu chuyện của người khác chất vấn chúng ta […]. Kinh nghiệm gặp gỡ làm chúng ta thay đổi; nhiều khi, nó mở ra những khả thể mới mẻ và bất ngờ.” Hơn nữa, một Giáo hội hiệp hành phải biết lắng nghe con người, bởi vì Giáo hội được mời gọi trở nên một “chuyên gia về nhân loại” (Gaudium et Spes, số 1) theo gương Ngôi Lời nhập thể. Bất cứ điều gì “là của con người” đều phải vang vọng trong lòng Giáo hội (GS 1). Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi lắng nghe anh chị em mình trong đức tin và mọi người mà Thiên Chúa đặt trên đường đời chúng ta, để như Công đồng Vaticanô II đã dạy, “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu” của con người trong thời đại hôm nay trở thành của chính chúng ta, và tìm được sự an ủi cùng câu trả lời từ nơi Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta (GS 1).
Tóm lại, một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội cùng bước đi với con người, gặp gỡ họ và lắng nghe họ, một Giáo hội thể hiện “phong cách của Thiên Chúa.” Như Đức Phanxicô thường nói, đó là phong cách của sự gần gũi, lòng trắc ẩn và sự dịu dàng.
Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội dấn thân cho sứ mạng, bởi vì sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã ban bình an của Người cho các môn đệ và sai họ đi loan báo Nước Thiên Chúa, bằng cách trao ban cho mọi người, không loại trừ ai, lòng thương xót và tình yêu của Chúa Cha (Văn kiện Chung kết, số 140). Bình an của Đức Kitô ngự trị trong lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, và Kinh thánh diễn tả sự bình an ấy như là sự viên mãn của sự sống, như sự thành toàn mọi hy vọng và khát mong của con người, điều chỉ có thể đến từ Đức Kitô và nơi một mình Người mà thôi. Đó là “sự hòa hợp với Thiên Chúa, với anh chị em, và với công trình tạo dựng,” sự hòa hợp mà chúng ta được dựng nên để sống và lòng chúng ta hằng khát khao (Văn kiện Chung kết, số 140).
Một Giáo hội hiệp hành dành thời gian cho việc lắng nghe lẫn nhau, đối thoại và phân định cộng đoàn để có thể đạt tới sự đồng thuận. Điều này bắt nguồn từ Bí tích Thánh tẩy chung của chúng ta. Bí tích ấy trao ban cho mọi thành phần trong Giáo hội một phẩm giá bình đẳng, đòi hỏi chúng ta phải học biết tính tương hỗ và sự đáp trả qua lại (Văn kiện Chung kết, số 36). Hơn nữa, một Giáo hội hiệp hành tin tưởng rằng, khi bước đi trên con đường hoán cải và phân định cách cẩn trọng, Giáo hội có thể “nghe điều Thần Khí nói với các Hội thánh” (Kh 2,6) bằng cách bám rễ trong kinh nghiệm của Dân thánh của Thiên Chúa. Việc lắng nghe kinh nghiệm này rất quan trọng, bởi nhờ Chúa Thánh Thần, Dân thánh của Thiên Chúa có một cảm thức đặc biệt đối với chân lý của Tin mừng, điều mà Giáo hội gọi là sensus fidei (cảm thức đức tin) (Văn kiện Chung kết, số 22). Tuy nhiên, như Văn kiện Chung kết nhấn mạnh, tiến trình lắng nghe Dân Thiên Chúa không được “đồng hóa với dư luận xã hội” (số 22). Trái lại, tiến trình ấy luôn đòi hỏi sự phân định của các mục tử và đòi hỏi nơi tất cả những ai tham gia một sự thanh luyện và hoán cải liên tục. Đó là một hành trình đòi hỏi “sự tự do nội tâm, lòng khiêm nhường, việc cầu nguyện, sự tin tưởng lẫn nhau, sự cởi mở với điều mới mẻ và sự quy phục thánh ý Thiên Chúa. Phân định không bao giờ là sự khẳng định quan điểm cá nhân hoặc nhóm, và cũng không là sự giải quyết đơn giản bằng cách tổng hợp các ý kiến cá nhân (Văn kiện Chung kết, số 82). Sau cùng, sự phân định trong Giáo hội mà tính hiệp hành mời gọi là “một thực hành thiêng liêng đặt nền trên một đức tin sống động” (số 82), và điều đó chỉ có thể thực hiện được “khi nhìn nhận tính ưu tiên tuyệt đối của ân sủng” (số 44). Nếu việc lắng nghe lẫn nhau và phân định chung không trở thành “một nơi chốn và hình thức gặp gỡ Thiên Chúa” (số 44), thì rất nhanh chóng nó sẽ chỉ còn là một phương tiện tổ chức thuần túy. Nhưng điều chúng ta cần không phải là một chiến lược tổ chức mới. Điều chúng ta cần là một Giáo hội có khả năng hơn trong việc nuôi dưỡng mối tương quan với Chúa và với tha nhân. Vấn đề không nằm ở chiến lược hay hiệu quả cơ cấu. Các mối tương quan và sự gắn kết chính là cách thức mà Thiên Chúa Cha đã mặc khải chính mình nơi Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Vì thế, chúng là thành phần thiết yếu của đời sống và chứng tá Kitô giáo. Tính hiệp hành đề xuất những thái độ và thực hành cụ thể giúp chúng ta làm nảy sinh những mối tương quan mới, xuất phát từ một sự canh tân trong ân sủng (Văn kiện Chung kết, số 50).
Điều này dẫn chúng ta đến đặc điểm cuối cùng của một Giáo hội hiệp hành, đó là khái niệm đồng trách nhiệm. Đồng trách nhiệm bao hàm hai chiều kích: vừa mở rộng sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa vào tiến trình đưa ra các quyết định, vừa tôn trọng sự khác biệt về đặc sủng, khả năng và vai trò của mỗi người, bao gồm cả quyền giảng dạy và cai quản của các mục tử (Văn kiện Chung kết, số 87).
Thượng Hội đồng Giám mục khẳng định rất mạnh mẽ điểm thứ hai này: “Trong một Giáo hội hiệp hành, thẩm quyền đưa ra quyết định của giám mục, giám mục đoàn và Giám mục Rôma là bất khả xâm phạm, bởi vì nó xuất phát từ cơ cấu phẩm trật của Giáo hội do Đức Kitô thiết lập, để phục vụ sự hiệp nhất và tôn trọng sự đa dạng hợp pháp” (LG 13). Văn kiện tiếp tục, “Không thích hợp khi đặt yếu tố tham vấn và yếu tố quyết định trong tiến trình đi đến quyết định đối nghịch với nhau: trong Giáo hội, yếu tố quyết định được thực hiện với sự trợ giúp của mọi người và không bao giờ tách rời khỏi những người, do trách nhiệm mục tử của mình, có quyền đưa ra quyết định theo chức vụ” (số 92). Không có sự cạnh tranh hay xung đột giữa giai đoạn tham vấn và giai đoạn quyết định của những người có thẩm quyền thích hợp. Toàn bộ ý nghĩa của sự hoán cải theo tinh thần hiệp hành là thiết lập những thực hành phân định chung, bảo đảm rằng “các quyết định được đưa ra là hoa trái của sự vâng phục của tất cả đối với điều Thiên Chúa muốn cho Giáo hội của Người” (số 90). Thực vậy, thẩm quyền trong Giáo hội hiện hữu để lắng nghe và đón nhận Đức Kitô cùng thánh ý của Người (số 91). Nếu phải tóm lược cái nhìn của tính hiệp hành về việc phân định trong Giáo hội, chúng ta có thể diễn đạt bằng câu châm ngôn sau: không có gì mà không có Giám mục, không có gì mà không có hàng giáo sĩ, và không có gì mà không có Dân Thiên Chúa (số 88).
Xin kết thúc phần này bằng việc quy tụ những điểm chính của những suy tư ở trên. Tính hiệp hành là một cách sống và hành động giúp Giáo hội thực thi sự hiệp thông và sứ mạng mà Thiên Chúa mời gọi, bằng cách đề xuất những thái độ và thực hành cụ thể để hiện thực hóa những cam kết ấy trong mọi lãnh vực đời sống Giáo hội. Trên hết, Văn kiện Chung kết nhấn mạnh rằng trung tâm của tính hiệp hành “là lời kêu gọi hướng đến niềm vui và sự canh tân Giáo hội qua việc bước theo Chúa, qua sự dấn thân phục vụ cho sứ vụ của Người, và qua việc tìm kiếm những phương cách để trung thành với Người (số 3). Đó là lời mời gọi dành cho tất cả các Kitô hữu, không loại trừ ai, bởi vì tất cả chúng ta đều là những môn đệ được Chúa tuyển chọn và trao quyền để trở thành “chủ thể tích cực của sứ mạng loan báo Tin Mừng” (số 4).
Hoài Ân
Chuyển ngữ từ: hprweb.com