Một linh mục Dòng Tên Ba Lan đã khôn ngoan cải trang để cứu người Do Thái khỏi cuộc diệt chủng Holocaust, và từ chối ba cơ hội trốn thoát khỏi án tử hình để ở lại với những người mà ngài phục vụ.Tháng Giêng vừa qua đánh dấu kỷ niệm 81 năm ngày giải phóng trại Auschwitz-Birkenau, nơi gắn liền với sự tàn bạo và suy đồi hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Giữa những kinh hoàng của Chiến tranh Thế giới II, vẫn xuất hiện những tia sáng của lòng anh hùng Kitô giáo. Một trong những chứng nhân mà ít người biết đến là vị tử đạo Dòng Tên Ba Lan, Cha Adam Sztark (1907-1942). Dù cái chết luôn đe doạ bất cứ lúc nào, Cha vẫn khôn khéo cải trang để thực thi lòng thương xót cả về thể xác lẫn tinh thần.
Ngày 01/9/1939, Chiến tranh Thế giới II bùng nổ khi Đức Quốc xã xâm lược Ba Lan từ phía Tây, và Liên Xô tấn công từ phía Đông vào ngày 17 tháng 9. Cả Hitler lẫn Stalin đều muốn tiêu diệt Giáo hội Ba Lan. Theo nghiên cứu của linh mục Dòng Tên Felicjan Paluszkiewicz, trong giai đoạn 1939-1945, đã có 83 tu sĩ Dòng Tên Ba Lan, tương đương 11% tổng số tu sĩ trong nước, bị quân Đức và Liên Xô sát hại.
Năm 1939, Cha Sztark trở thành tuyên úy của Dòng Nữ tu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội tại Słonim (nay thuộc Belarus) và coi sóc Đền thánh Đức Mẹ tại Żyrowice gần đó. Sau khi Hồng quân chiếm thành phố, chính quyền Xô viết phổ biến tuyên truyền vô thần và tìm cách cô lập các linh mục khỏi dân chúng. Tuy nhiên, Cha Sztark vẫn đạp xe hàng chục kilômét để an ủi các bệnh nhân trong bệnh viện, cải trang thành một ông lão đến thăm con gái đang bệnh, hoặc giả làm một người Do Thái đến thăm người thân tại các viện dưỡng lão.
Năm 1941, Hitler tấn công Liên Xô. Dù những bất công mà Liên Xô gây ra cho Ba Lan vẫn còn là vết thương mới, Cha Sztark vẫn chuyển thức ăn và thuốc lá cho các sĩ quan Nga trong các trại tù binh qua hàng rào kẽm gai. Ngài cũng đạp xe đến vùng phụ cận Minsk để dạy giáo lý cho người Ba Lan và ban Bí tích Hòa giải, nhiều người trong số họ chưa từng gặp linh mục nào kể từ thời Cách mạng Bolshevik.
Cha Adam Sztark, SJ (1907–1942), vị tử đạo bị Đức Quốc xã sát hại ngày 19/12/1942 vì đã giúp đỡ người Do Thái tại Słonim, nay thuộc Belarus
(Nguồn: Văn khố Tỉnh Dòng Tên Greater Ba Lan và Mazovia)
Khi Słonim rơi vào tay Đức Quốc xã, người Do Thái địa phương bị các đơn vị hành quyết lưu động SS (“Einsatzgruppen”) bắn chết, những người sống sót bị dồn vào khu biệt cư (ghetto). Không giống Tây Âu, tại Ba Lan bị chiếm đóng, việc giúp đỡ người Do Thái sẽ bị phạt án tử hình, nhưng điều đó không làm Cha Sztark chùn bước. Vị linh mục có một lợi thế đặc biệt: dù không phải người Do Thái, ngài có ngoại hình mang nét Xê-mít. Điều này cho phép ngài di chuyển tự do trong khu biệt cư Słonim, nơi ngài mang thức ăn cho những người đang chết đói và bí mật đưa trẻ em Do Thái ra ngoài. Những em nhỏ này sau đó được che giấu trong các tu viện, cô nhi viện hoặc được gửi đến các gia đình Kitô hữu.
Việc trốn khỏi khu biệt cư có thể dẫn đến cái chết, và có lần Cha Sztark chỉ thoát chết trong gang tấc khi phải nhảy xuống từ tầng hai của một tòa nhà để tránh sự truy đuổi của lính Đức. Ngài còn cấp cho người Do Thái các giấy chứng nhận Rửa tội ghi lùi ngày và trực tiếp ban Bí tích Rửa tội cho họ. Tháng 12/1942, vị linh mục Dòng Tên, được ví như “Scarlet Pimpernel” (người giải cứu bí mật), đã lẻn vào nhà tù Słonim trong bộ đồng phục cảnh sát Ba Lan. Vài giờ trước khi một nhóm tù nhân gồm người Ba Lan, người Do Thái và các chiến sĩ du kích Liên Xô bị xử bắn, ngài đã an ủi họ và ban các Bí tích Hòa giải cùng Rửa tội. Vì những hoạt động nguy hiểm này, lực lượng kháng chiến địa phương đề nghị đưa ngài đến vùng Tổng Chính phủ (General Government) ở miền trung Ba Lan đang bị chiếm đóng để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, Cha Sztark từ chối và nói rằng: “Người mục tử tốt lành không bỏ rơi đoàn chiên mình, nhưng hiến mạng sống vì họ.” Khi hay tin các cộng tác viên Belarus đã tuyên án tử hình cho Cha, Cha vẫn từ chối trốn thoát.
Ngày 18 tháng 12, Cha Sztark cùng hai nữ tu Ba Lan, Sơ Ewa Noiszewska và Sơ Marta Wołowska (được Thánh Gioan Phaolô II phong chân phước năm 1999), bị bắt. Họ bị áp giải đến trụ sở Gestapo và giam giữ trong thời gian ngắn. Sáng hôm sau, họ bị đưa bằng xe tải đến đồi Pietralewicka để xử bắn. Trong giây phút cuối đời, Cha Sztark tiếp tục rửa tội và giải tội cho các tù nhân cùng bị kết án. Quen chứng kiến những người sắp chết hoảng loạn và gào thét, các đao phủ Đức Quốc xã ngạc nhiên khi thấy những người chờ xử tử lại bình an. Nghi ngờ sự bình an này xuất phát từ sự an ủi của vị linh mục, họ đề nghị tha mạng cho ngài, nhưng một lần nữa Cha Sztark lại từ chối. Như lời của vị tử đạo Dòng Tên khác là Chân phước Miguel Pro tại Mexico, những lời cuối cùng của Cha Sztark là: “Đức Kitô Vua muôn năm! Ba Lan muôn năm!” Sau cuộc hành quyết, một người Belarus đã cởi áo dòng của ngài, chiếc áo được cắt thành nhiều mảnh và được dân địa phương tôn kính như thánh tích.
Năm 2001, Viện tưởng niệm Holocaust Yad Vashem của Israel đã tuyên nhận Cha Sztark là “Người công chính giữa các dân tộc”. Năm 2003, án phong chân phước cho ngài cùng 16 vị tử đạo Dòng Tên Ba Lan khác trong Chiến tranh Thế giới II chính thức được khởi sự.
Sự tàn bạo cực độ của Chiến tranh Thế giới II khiến nhiều người đặt câu hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Nhưng chính trong thời khắc đau thương ấy, những vị tử đạo như Cha Sztark, Chân phước Bernhard Lichtenberg hay Thánh Maximilian Kolbe đã minh chứng cách tuyệt vời lời Chúa Giêsu: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Khi thế giới hôm nay một lần nữa bị xé nát bởi chiến tranh, ước gì lời chuyển cầu của các ngài nâng đỡ những ai đang bị đe dọa bởi bạo lực.
Lm. Giuse Phạm Hoài Vũ
Chuyển ngữ từ: ewtnnews.com