Bài 22: Bí tích Hôn phối (Phần II)

Chương trình Giáo lý cho người trưởng thành do Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên trực tiếp giảng dạy, được công chiếu mỗi tháng 2 bài vào lúc 21h00 Chúa nhật.

Tình yêu hôn nhân tượng trưng cho tình yêu của Chúa Giêsu đối với Giáo hội của Người (Ep 5,21-33).

1. Nghi thức Bí tích Hôn phối

Các nghi thức chính yếu:

* Thẩm vấn

Linh mục chủ tế đặt câu hỏi cho đôi bạn về sự tự do, về tình yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và việc sẵn sàng đón nhận con cái do Chúa ban. 

* Trao lời ưng thuận

Đây là hành động quyết định tạo nên bí tích. Đôi bạn bày tỏ sự ưng thuận kết hôn với nhau bằng việc trao lời thề hứa, thể hiện ý chí tự do và dứt khoát. 

* Trao nhẫn cưới

Sau khi trao lời thề, đôi bạn trao nhẫn cưới cho nhau như một dấu chỉ thiêng liêng của giao ước hôn phối và tình yêu vĩnh cửu. 

Các yếu tố quan trọng khác

* Thừa tác viên

Chính đôi nam nữ là người ban Bí tích cho nhau. Linh mục hay phó tế chỉ là người chứng hôn, đóng vai trò đại diện cho Hội thánh. 

* Sự chứng hôn

Sự hiện diện của người chứng hôn (thường là linh mục) và hai nhân chứng là yếu tố bắt buộc cho Bí tích. 

* Bối cảnh cử hành

Thông thường, Bí tích Hôn phối được cử hành trong thánh lễ để liên kết việc kết hôn với hy lễ của Đức Kitô. 

2. Các điều kiện để cử hành hôn phối thành sự và hữu hiệu 

– Phải là hai Kitô hữu, nếu thuộc hai giáo hội khác nhau thì phải xin phép.

– Đôi nam nữ hoàn toàn tự do bày tỏ sự ưng thuận kết hôn trước vị chứng hôn hợp pháp của Hội thánh, đồng thời ý thức và hiểu biết về những gì mình cam kết. Những thiếu sót, lầm lẫn về sự tự do ưng thuận đều làm cho hôn nhân bất thành.

– Không mắc ngăn trở tiêu hôn, Giáo luật quy định 12 ngăn trở tiêu hôn (Giáo luật, Điều 1083 – 1094):

+ Ngăn trở về tuổi: Theo lẽ tự nhiên, Giáo luật qui định nam phải đủ 16 tuổi, nữ phải đủ 14 tuổi. Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định hạn tuổi là theo Dân Luật (nam 20 tuổi và nữ 18 tuổi).

+ Ngăn trở do bất lực: tức là không có khả năng sinh hoạt vợ chồng, dù biết trước khi kết hôn hay không biết đều kết hôn bất thành. Trường hợp son sẻ vẫn có thể kết hôn thành sự.

+ Ngăn trở do dây hôn phối trước: một trong hai người hoặc cả hai còn bị ràng buộc bởi Bí tích Hôn phối hay hôn nhân tự nhiên thì việc kết hôn sau bất thành, trừ đặc ân Phaolô (1Cr 7,12-16). Trường hợp một người theo đạo mà người kia vì lý do tòng giáo không chấp nhận chung sống thì được ly hôn và có quyền tái hôn. Đặc ân Phaolô nhằm bảo vệ đức tin của người được Rửa tội, miễn là bên không Rửa tội đoạn tuyệt với họ.

+ Ngăn trở họ máu (Giáo luật, Điều 1091):

Trong trực hệ, hôn phối giữa tất cả thân thuộc, dù chính thức hay tự nhiên đều là vô hiệu. 

Trong bàng hệ, hôn phối vô hiệu cho đến hết cấp thứ bốn.

Đối với họ máu, cấm kết hôn trong các đời thuộc hàng dọc, còn hàng ngang thì được kết hôn khi đã quá 4 đời (cách tính đời theo Giáo Luật là cộng tất cả các đời của hai bên lại, trừ gốc ra). Đối với họ kết hôn (có họ do kết hôn), chỉ cấm kết hôn hàng dọc (vd: không được lấy mẹ vợ hay con riêng của vợ). Ngoài ra, các loại họ thiêng liêng hay kết nghĩa … không cản trở việc kết hôn.

+ Ngăn trở do khác đạo (Giáo luật, Điều 1086).

+ Ngăn trở vì có chức thánh hoặc lời khấn trọn trong dòng tu.

+ Một số ngăn trở khác:

Ngăn trở do mưu sát người phối ngẫu (Giáo luật, Điều 1090);

Ngăn trở dưỡng hệ (tức là con nuôi, hôn phối bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai hàng ngang (Giáo luật, Điều 1094);

Ngăn trở về công hạnh (cấm kết hôn bậc thứ nhất hàng dọc, Giáo luật, Điều 1093);

Ngăn trở do bị bắt cóc cưỡng hôn, đều làm cho hôn phối vô hiệu.

3. Quy định về thủ tục Hôn phối

Tại Hội nghị kỳ 01/2024, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố “Quy định về thủ tục hôn phối áp dụng cho toàn Giáo hội tại Việt Nam”. Đây là những hướng dẫn chung, quy định việc học giáo lý cũng như những thủ tục và điều kiện khác, dành cho các linh mục, những giáo lý viên và cho các bạn trẻ chuẩn bị kết hôn. Xin nêu ở đây một số quy định chính:

– Việc học Giáo lý hôn nhân:

+ Trước khi kết hôn, đôi bạn buộc phải học giáo lý hôn nhân. Việc học giáo lý có thể thực hiện ở bất cứ giáo xứ nào, hoặc tại một cơ sở được Đấng Bản quyền chuẩn nhận.

+ Chỉ có cha sở hoặc cơ sở được chuẩn nhận mới có quyền cấp chứng chỉ giáo lý hôn nhân.

+ Các chứng chỉ giáo lý hôn nhân này được công nhận trong toàn Giáo hội tại Việt Nam và có giá trị vô thời hạn (Điều 16).

– Thời gian học Giáo lý Hôn nhân: kéo dài từ một đến ba tháng. Có thể rút ngắn nhưng vẫn bảo đảm những điều căn bản (Điều 18).

– Thời gian học Giáo lý Dự tòng: Trong trường hợp học Giáo lý Dự tòng để kết hôn, thời gian Dự tòng nên là sáu tháng, ít nhất là ba tháng (Điều 19).

4. Tuyên bố một hôn nhân vô hiệu nghĩa là gì ?

– Trước hết, chúng ta phải khẳng định: Giáo hội không bao giờ được phép tháo gỡ một hôn nhân đã thành sự, vì “điều gì Thiên Chúa đã liên kết thì con người không được phân ly”.

Theo Giáo luật, tuyên bố hôn nhân vô hiệu là việc coi cuộc hôn nhân đó không tồn tại ngay từ đầu, vì nó không đáp ứng các điều kiện cơ bản về pháp lý và sự ưng thuận. Điều này xảy ra khi có sự thiếu sót hoặc khiếm khuyết một trong ba yếu tố thiết yếu của kết ước hôn nhân, đó là:

+ Năng cách pháp lý (mắc một trong các ngăn trở tiêu hôn đã nêu ở trên),

+ Sự ưng thuận của đôi bên,

+ Hình thức cử hành nghi thức kết hôn.

– Chỉ có Tòa án Hôn phối mới có quyền tuyên bố một cuộc hôn nhân là vô hiệu, sau khi đã nghiên cứu cẩn thận và lắng nghe cả hai bên.

Một số trường hợp, Tòa thánh ban quyền cho các vị giám mục địa phận. Đối với một số trường hợp khác, phải đệ trình Tòa thánh xem xét và quyết định. Thông thường, mỗi giáo phận có một Tòa án Hôn phối.

Kết luận

– Yếu tố chính của nghi thức Bí tích Hôn phối là đôi bạn bày tỏ sự ưng thuận trước mặt Chúa và Giáo hội. Linh mục và hai người làm chứng là những người chứng kiến cam kết của họ. Việc trao nhẫn là dấu chỉ thiêng liêng của giao ước hôn phối và tình yêu vĩnh cửu. 

– Để cử hành Bí tích Hôn phối thành sự và hợp pháp, đôi bạn phải là những người đã được Rửa tội và không mắc bất cứ ngăn trở nào trong danh sách 12 ngăn trở tiêu hôn do Giáo luật quy định.

– Trước khi cử hành Bí tích Hôn phối, đương sự phải được học giáo lý. Người xin theo Đạo phải học Giáo lý Dự tòng. Đôi bạn cũng phải thực hiện các thủ tục khác như xin điều tra và rao hôn phối, đồng thời phải cung cấp đầy đủ những hồ sơ chứng minh tình trạng tự do (độc thân) của mình.

– Chỉ có thẩm quyền Giáo hội mới được tuyên bố một hôn nhân vô hiệu.

Tải file về tại đây!

Nguồn: tonggiaophanhanoi.org