Bài viết này trình bày hành trình 50 năm đào tạo linh mục tại Hoa Kỳ, phân tích ba thế hệ linh mục sau Công đồng Vatican II. Tác giả giúp người đọc hiểu những chuyển biến về thần học, phụng vụ và mục vụ, đồng thời gợi mở hướng đào tạo linh mục cho tương lai.Là một linh mục Công giáo được truyền chức năm 1998, và là giáo sư Thần học Tín lý, đặc trách tuyển sinh và cổ võ ơn gọi chủng viện (từng đảm nhiệm vai trò giám học và phụ tá phó giám đốc một chủng viện khác), tôi được ơn suy tư về đời sống linh mục cả bên trong lẫn bên ngoài. Tôi đã sống trong một “thế hệ linh mục”, và hiện nay đang góp phần đào tạo thế hệ kế tiếp. Trong suốt năm thập niên qua, hàng linh mục Công giáo tại Hoa Kỳ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các biến cố của Giáo hội, giáo huấn của các giáo hoàng, và những mô hình đào tạo chủng viện không ngừng thay đổi. Nếu chức linh mục mang tính trường tồn trong thực tại Bí tích, thì nó cũng không thể tách rời khỏi bối cảnh thời đại và văn hóa.
Trong bài viết này, tôi muốn phác họa ba thế hệ linh mục chính: thế hệ được truyền chức vào thập niên 1970, thế hệ “Gioan Phaolô II” của tôi trong thập niên 1990, và thế hệ được truyền chức trong thập niên 2010 dưới Triều đại Đức Bênêđictô XVI và Đức Phanxicô. Sau cùng, tôi sẽ đề cập đến các “linh mục thời Đức Giáo hoàng Lêô XIV” đang được đào tạo theo Chương trình Đào tạo Linh mục năm 2022. Dĩ nhiên, đây chỉ là những mô tả khái quát chứ không phải là những khuôn mẫu bất di bất dịch, vì như một linh mục Dòng Tên từng nói với tôi về các anh em của ngài: “Khi bạn gặp một linh mục, nghĩa là bạn chỉ mới gặp một linh mục mà thôi.”
Những linh mục được truyền chức vào đầu thập niên 1970 là con cái của Công đồng Vatican II. Tại Hoa Kỳ, họ được đào tạo theo ấn bản đầu tiên của Chương trình Đào tạo Linh mục (PPF, 1971), vốn nhấn mạnh đến việc thích nghi mục vụ và cởi mở với thế giới hiện đại. Chương trình học thuật thời ấy thường xem nhẹ triết học Tôma, đề cao thần học mục vụ và khoa học xã hội. Ngay cả các khái niệm như “đào tạo nhân bản” và “thường huấn” hầu như chưa được định hình rõ ràng.
Về mặt thần học, thế hệ này có khuynh hướng thiên về thần học trải nghiệm, lối giảng thuyết kể chuyện, và đôi khi tỏ ra dè dặt trước sự rõ ràng của tín lý. Về phụng vụ, họ nhiệt tình đón nhận Sách lễ mới của Đức Phaolô VI với nhiều sáng tạo: đàn guitar, thánh ca dân ca, những thích nghi ngẫu hứng, và ngôn ngữ bao hàm trở nên phổ biến.
Về mặt chính trị, nhiều linh mục thuộc thế hệ này dấn thân mạnh mẽ vào các phong trào công bằng xã hội – dân quyền, phản chiến, liên đoàn lao động – nhưng đôi khi lại ít nhấn mạnh đến việc bảo vệ sự sống và các vấn đề luân lý tính dục. Căn tính mục vụ của họ thường nhắm đến việc “đồng hành với dân chúng” hơn là tách biệt hẳn với họ.
Như Hiến chế Gaudium et Spes đã viết: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người thời đại này… cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô.” Các linh mục thập niên 1970 đã sống tinh thần bản văn này, đôi khi phải đánh đổi phần nào căn tính đặc thù của linh mục.
Lớp linh mục của tôi được truyền chức năm 1998 chịu ảnh hưởng rõ rệt từ giáo huấn và chứng tá của Thánh Gioan Phaolô II. Chúng tôi được đào tạo theo ấn bản thứ ba của PPF (1992), được đưa vào Pastores Dabo Vobis với “bốn trụ cột” của việc đào tạo: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ.
Việc đào tạo tri thức của chúng tôi khá vững chắc, với sự hồi sinh của triết học Tôma và thẩm quyền mới mẻ của Sách Giáo lý Hội thánh Công Giáo (1992). Thần học luân lý của chúng tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Veritatis Splendor (1993), vốn dạy chúng tôi chống lại chủ nghĩa tương đối và khẳng định các chuẩn mực luân lý phổ quát, cũng như từ Evangelium Vitae (1995), đưa ra cho chúng tôi một căn tính bảo vệ sự sống rõ ràng. Về mặt thiêng liêng, lòng sùng kính Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria không phải là tùy phụ, nhưng là trọng tâm của đời sống linh mục.
Về phụng vụ, chúng tôi cung kính cử hành Thánh lễ theo Nghi thức mới (Novus Ordo), và ngày càng quan tâm đến nhạc bình ca, việc hướng về bàn thờ (ad orientem), và chầu Thánh Thể. Các tác phẩm của Đức Hồng y Ratzinger về “cải cách việc cải cách” bắt đầu vang vọng nơi chúng tôi. Thánh lễ theo hình thức Tridentinô chưa phổ biến trong thời gian đào tạo của chúng tôi, nhưng tinh thần tôn kính phụng vụ thì đã có.
Về mục vụ, thế hệ chúng tôi sớm phải đối diện và vượt qua những biến động dữ dội do cuộc khủng hoảng lạm dụng năm 2002. Chúng tôi học được sự kiên vững và trung thành giữa thái độ nghi kỵ. Về mặt chính trị, chúng tôi mạnh mẽ bảo vệ sự sống và gia đình, nhưng vẫn quan tâm đến Giáo huấn Xã hội của Giáo hội về nghèo đói và di dân. Chúng tôi trở thành một thế hệ cầu nối, chính thống mà không cứng nhắc, mục vụ mà không dễ dãi.
Thánh Gioan Phaolô II đã diễn tả lý tưởng của chúng tôi: “Linh mục được mời gọi kéo dài sự hiện diện của Đức Kitô, vị Thượng Tế duy nhất, thể hiện lối sống của Người và làm cho Người hiện diện giữa đoàn chiên được trao phó cho mình.”
Các chủng sinh của thập niên 2010 được đào tạo theo ấn bản thứ năm của PPF (2006), vẫn dựa trên bốn trụ cột của Thánh Gioan Phaolô II, nhưng nhấn mạnh hơn đến việc đào tạo nhân bản sau những hệ quả của cuộc khủng hoảng lạm dụng. Các đánh giá tâm lý, hội thảo về đời sống độc thân và huấn luyện về ranh giới đã trở thành tiêu chuẩn.
Về thần học, họ hấp thụ sự minh bạch của Đức Bênêđictô XVI, bắt nguồn từ thần học “về nguồn” (ressourcement) và tinh thần tôn kính phụng vụ (Sacramentum Caritatis, 2007), đồng thời cũng lắng nghe lời mời gọi của Đức Phanxicô về lòng thương xót, quan tâm đến môi trường và sự gần gũi mục vụ (Evangelii Gaudium, 2013). Việc đào tạo của họ thường phải dung hòa các điểm nhấn này một cách sáng tạo.
Về phụng vụ, họ được tiếp cận với Hình thức Ngoại thường nhờ Summorum Pontificum (2007). Ngay cả trong Hình thức Thông thường, tiếng Latinh, nhạc bình ca và việc cử hành ad orientem cũng xuất hiện nhiều hơn. Nhiều người tránh lối cử hành tùy tiện, nhưng đề cao việc trung thành với luật chữ đỏ của phụng vụ.
Về mặt chính trị, các linh mục này mạnh mẽ lên tiếng về sự sống, hôn nhân và tự do tôn giáo, đồng thời học cách hội nhập với ưu tư của Đức Phanxicô về di dân và người nghèo. Căn tính mục vụ mang đậm nét đặc thù của linh mục đôi khi bị gán nhãn là “giáo sĩ trị,” nhưng thực ra được thúc đẩy bởi khao khát lấy lại tính linh thánh.
Ngày nay, dưới Triều đại Đức Giáo hoàng Lêô XIV và ấn bản thứ sáu của PPF (2022), chúng ta đang đào tạo điều mà tôi gọi là “những linh mục của sự hội nhập.” Ratio mới và PPF vạch ra bốn giai đoạn đào tạo riêng biệt – dự bị, môn đệ, đồng hình đồng dạng, và tổng hợp mục vụ – nhấn mạnh sự phát triển tiệm tiến và việc đào tạo suốt đời.
Những “linh mục thời Đức Giáo hoàng Lêô” có lẽ sẽ kết hợp được sự chính thống trong tín lý, lòng tôn kính trong phụng vụ và tinh thần truyền giáo trong thực hành mục vụ. Về thần học, họ có thể dung hòa trường phái Thần học Hiệp thông (Communio) (Ratzinger, Henri de Lubac) và Thần học Về nguồn (ressourcement) (Thánh Tôma) với tính thực tế mục vụ. Về phụng vụ, họ có thể cân bằng giữa sự trang trọng của Đức Bênêđictô và sự gần gũi mục vụ của Đức Phanxicô. Về chính trị, họ có thể vượt lên trên những đối lập của chiến tranh văn hóa, để đưa ra một tầm nhìn xã hội Công giáo toàn diện đặt nền trên sự hiệp thông và hy vọng.
Là người đã sống một trong những căn tính thế hệ ấy và hiện đang đào tạo thế hệ kế tiếp, tôi nhận thấy vừa có tính liên tục vừa có sự khác biệt. Các linh mục thập niên 1970 phản ánh giai đoạn thử nghiệm ngay sau Vatican II. Thế hệ thập niên 1990 của tôi mang đậm căn tính, tính chính thống và lòng sùng kính Thánh Thể của Thánh Gioan Phaolô II. Các linh mục thập niên 2010 thấm nhuần lòng tôn kính phụng vụ của Đức Bênêđictô và phong cách mục vụ truyền giáo của Đức Phanxicô. Và các linh mục thời Đức Lêô XIV đang được đào tạo hôm nay có thể sẽ trở thành những người hội nhập: linh mục của sự hiệp thông, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sứ vụ.
Chức linh mục trước hết luôn thuộc về Đức Kitô, trước khi thuộc về chúng ta. Các thế hệ thay đổi, bối cảnh biến chuyển, chương trình thích nghi, nhưng mầu nhiệm vẫn còn đó. Như Thánh Gioan Phaolô II đã nhắc nhở: “Linh mục là hình ảnh sống động và trong suốt của Đức Kitô Linh Mục.”
Lm. Giuse Phạm Hoài Vũ
Chuyển ngữ từ: hprweb.com